Home Trang Nhà Diễn Đàn Những vần thơ chui

Những vần thơ chui PDF Print E-mail
Tác Giả: Lê Thương   
Thứ Sáu, 08 Tháng 1 Năm 2010 15:00

{jcomments off}Dân Việt Nam ta vốn có hồn thơ lai láng

nên ngoài những mẩu chuyện châm biếm đả phá chế độ cộng sản, họ còn sáng tác rất nhiều vần thơ và ca dao nói lên những hoàn cảnh sinh hoạt bi ai cũng như tâm tư uất hận của người dân dưới chế độ bạo tàn. Dĩ nhiên những vần thơ “quốc cấm” này đều khuyết danh, chỉ được lén lút học thuộc lòng rồi thì thầm rỉ tai cho nhau nghe nên được gọi là “thơ chui”.

Những vần thơ chui đôi khi dí dỏm khiến người nghe phải tủm tỉm cười thầm hay ôm bụng cười sằng sặc hoặc đôi khi não nùng thống thiết bày tỏ tinh thần chống đối chủ nghĩa cộng sản đem lại đói khát, khổ đau, nhục nhã cho người dân sau ngày chúng cưỡng chiếm Miền Nam.

Vào ngày 30-4-1975, khi mà những đôi dép râu giẵm nát hè phố Sài Gòn thì mây sầu cũng phủ đầy trời, khí oan kín đất. Cái chiến thắng của những kẻ đào đường, phá cầu, giật mìn xe đò, đốt trường học, pháo kích nhà dân cũng là đám mây đen bắt đầu vần vũ báo hiệu một cơn giông tố hãi hùng sắp sửa xảy ra cho quê hương và dân tộc. Cho nên khi thấy những cái nón cối xuất hiện thì đồng bào đổ xô nhau chạy, chạy toát mồ hôi trước những kẻ tự xưng là “giải phóng”. Nhìn cảnh tượng đó, một bác sĩ, cũng là một nhà thơ còn kẹt lại ở Việt Nam đã làm một bài thơ có tựa đề:

CHẠY! CHẠY!

Tự do, độc lập nhất trên đời,
Thiên hạ sao mà chạy chết thôi!
Mới thấy bóng cờ sờn tóc gáy,
Vừa nhìn ảnh bác toát mồ hôi.
Tổ cò, tổ quốc tung hê cả,
Nhân bánh nhân tình vứt bỏ rơi.
Ông Táo quên quần la cuống quýt:
“Mau lên kẻo nó tới kia rồi”.
Và vừa chạy, đồng bào vừa bảo nhau:
Đôi dép râu giẵm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai.

Công lý và tự do là hai danh từ mang nhiều ý nghĩa cao đẹp mà người dân của bất cứ quốc gia nào cũng đều ấp ủ, thậm chí có rất nhiều người còn hy sinh xương máu mình để bảo vệ công lý và tự do. Nhưng những người cộng sản vốn độc tài, ghét công lý, thù tự do nên khi vừa cưỡng chiếm Miền Nam họ liền cho thay đổi hai con đường Công Lý, Tự Do ở Sài Gòn lại thành đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi. Thấy vậy người dân mới mỉa mai rằng:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Lúc mới chiếm được Miền Nam, Việt Cộng áp dụng nhiều biện pháp khắc khe để kềm kẹp đồng bào như kiểm soát từ miếng ăn, từ lời nói, tư tưởng, sự đi lại. Người dân muốn di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác phải xin phép với nhiều thủ tục giấy tờ phức tạp, khó khăn. Di chuyển không giấy phép sẽ bị bắt giữ hay không có danh sách trong “hộ khẩu”. Người dân không còn được tự do đi lại dễ dàng như trước kia khiến họ oán ghét chế độ, từ đó trong lòng nhân dân phát sinh ra một bài thơ chui “ĐI RA . . . ĐI VÀO” khá dí dỏm, mở đầu bằng câu Kiều của Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta,
Ai ai cũng được đi ra, đi vào.
Chậm tiến như ở nước Lào,
Người dân vẫn được đi vào, đi ra.
Tiên tiến như ở nước Nga,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Xa xôi như nước Bồ-Đào,
Đồng bào vẫn được đi vào, đi ra.
Mọi rợ như Angola,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Độc tài như xứ bác Mao,
Nhân dân vẫn được đi vào, đi ra.
Chỉ riêng có tại nước ta,
Người dân cóc được đi ra, đi vào.

Chiếm được Miền Nam, cộng sản dùng mọi thủ đoạn gian manh như đổi tiền, đánh tư sản mại bản, tịch thu tài sản, sưu cao thuế nặng để bóc lột nhân dân cho đến trần trụi. Quá bần cùng, không cơm ăn áo mặc người dân phải đi ăn xin, ăn mày. Trong thời điểm này, ăn mày xuất hiện khắp đường phố và dân gian đã nhại bốn câu Chinh Phụ Ngâm để nói lên thảm cảnh ăn mày của người dân dưới sự cai trị tàn bạo của ngụy quyền tự nhận là “Đỉnh cao trí tuệ của loài người”:

Con cháu Lạc Hồng chung giống cả,
Không què đui sao rủ rê nhau.
Đảng ta bị gậy trao tay,
Nửa đêm truyền hịch đợi ngày . . . ăn xin!

Sau ngày 30-4-1975, Miền Nam như sụp xuống địa ngục, tập đoàn cộng sản đã vẽ nên bức tranh đen tối cho quê hương. Trước kia, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa người dân được sống sung túc về vật chất, thoải mái về tinh thần. Sự giàu sang, sung túc của Miền Nam bị những người cộng sản Bắc Việt gọi là “sự phồn vinh giả tạo” và sau khi “giải phóng” Miền Nam họ đã biến sự phồn vinh giả tạo này thành địa ngục của đói rách, khổ đau, nhục nhã, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, cả nước phải ăn cơm độn với khoai hay phải ăn bo bo. Các cựu sĩ quan với bằng tú tài, cử nhân, kỹ sư, giáo sư phải chạy xe ôm, đạp xích lô, bán chợ trời . . .

Nhìn những người có học, trí thức đó phải bưng những cái mẹt đi bán từng trái chanh, trái ớt, từng bó rau muống, từng tấm vé số, từng điếu thuốc lá hay sửa xe ở góc đường thấy mà chảy nước mắt cho một cuộc đổi đời. Trước cảnh quê hương bầm dập tả tơi, đồng bào lầm than khốn khổ, người dân đã nhại bài ca dao “Mười Thương” để nói lên thảm trạng của đất nước sau ngày được gọi là “giải phóng”:

Một thương phá hại xóm làng,
Hai thương bác bảo gian nan trường kỳ.
Ba thương cơm độn củ mì,
Bốn thương hội họp bất kỳ ngày đêm.
Năm thương chân cứng đá mềm,
Bắt đi đánh trận đông Miên, hạ Lào.
Sáu thương sản lượng bình cao,
Để cho mức thuế ngày nào cũng tăng.
Bảy thương sản xuất siêng năng,
Thuế rồi nhịn đói nhăn răng cả nhà.
Tám thương được hát quốc ca,
Của hai nước bạn là Nga với Tàu.
Chín thương nô lệ cúi đầu,
Chùi giày Trung Cộng, quạt hầu Nga Sô.
Mười thương có một bác Hồ,
Làm cho điêu đứng cơ đồ Việt Nam!

Cộng sản đưa ra khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” nhưng thực chất của chính sách thi đua lao động là phương cách bóc lột mồ hôi, máu lệ của người dân để đời sống của cán bộ và lãnh đạo giàu sang, “ngồi mát ăn bát vàng”. Đây, xin hãy nghe người dân nghèo khổ, lầm than gióng lên những tiếng chuông ngân dài, ai oán:

Thi đua làm một thành hai,
Để thằng cán bộ mua đài, mua xe.
Thi đua làm một thành ba,
Để thằng cán bộ xây nhà, lót sân.
Thi đua làm một thành tư,
Để thằng cán bộ tiền dư, bạc thừa.
Thi đua làm một thành năm,
Để thằng cán bộ vừa nằm, vừa ăn.
Hay:
Công nhân giai cấp tiền phong,
Ăn đói vác nặng, lưng còng mắt hoa.
Một người làm việc bằng ba,
Để cho lãnh đạo xây nhà, xây lăng.
Mọi người thi đua thật hăng,
Để cho lãnh đạo ăn nằm thảnh thơi.
Công nhân vợ ốm, con côi,
Lãnh đạo nhà đẹp, xe hơi bề bề.
Bao giờ cho hết trò hề?

Ngoài sự bóc lột người dân, chế độ cộng sản còn sinh ra tệ nạn tham nhũng. Tham nhũng ở khắp mọi nơi trong guồng máy nhà nước. Cán bộ tham nhũng đã trở thành những“tư bản đỏ” với tiền rừng, bạc biển. Theo tin tức cho biết hiện thời có rất nhiều cán bộ cao cấp và lãnh đạo cộng sản là những triệu phú hay tỷ phú Đô-la (USD). Ai cũng biết hầu hết cán bộ cao cấp và lãnh đạo cộng sản đều thuộc thành phần vô sản vì thế người dân mới hỏi nhau rằng nếu chúng không tham nhũng, không mánh mung, không ăn cắp công quỹ, không ăn cướp của dân, không bán rẻ tài nguyên quốc gia thì thử hỏi tiền đâu để chúng trở thành triệu phú hay tỷ phú Đô-la? Xin hãy nghe những lời ta thán của người dân:

Hỡi phường cán bộ gian tham,
Sao chẳng chịu làm chỉ chực ăn không?
Hoặc:
Chủ tịch nằm ngủ trong lăng,
Trung ương nghỉ mát lăng xăng nước ngoài.
Phu nhân buôn lậu dài dài,
Cô chiêu, cậu ấm nước ngoài yên thân.
Chung quy chỉ chết thằng dân!

Quá khổ dưới sự cai trị bạo tàn khiến người dân uất hận đem các lãnh tụ cộng sản ra oán trách và châm biếm. Người bị oán trách trước tiên là Hồ Chí Minh:

Trách ai sinh thứ họ Hồ,
Để cho đất nước như đồ vất đi.
Ngoài sự oán trách, người dân còn đem ông Hồ ra mà châm biếm:
Mỗi năm một mét vải sô,
Làm sao che được cụ Hồ em ơi!
Hay:
Di ảnh bác Hồ lộng kiếng treo,
Nghĩa là liệng cống, cạnh chuồng heo.
Vất mi xuống đó, loài muông cẩu,
Đừng để chúng ông giận đá bèo.

Và khi nhà nước cộng sản vừa mới dựng xong tượng Hồ Chí Minh ở Bến Ninh Kiều thuộc tỉnh Cần Thơ thì người dân cũng có liền hai câu thơ bằng thứ văn chương đối kháng mà khi đọc lên hồn ma ông Hồ cũng phải nhức nhối:

Chiều chiều trên Bến Ninh Kiều,
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân.

Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa hoang tưởng nên khi áp dụng nó sẽ đem lại những hậu quả tai hại thế mà Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa này tròng lên đầu lên cổ nhân dân với lời hứa đưa đất nước lên “thiên đàng cộng sản”. Thiên đàng đâu không thấy mà chỉ thấy đất nước bị tụt hậu, dân tình lầm than, khốn khổ cho nên, ngoài sự oán trách ông Hồ, dân Việt Nam ta còn oán trách cả Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa hoang tưởng này:

Cụ Mác ơi! Cụ là đồ chó đẻ,
Thiên đàng cụ hứa như thế kia a?

Sau ông Hồ, các lãnh tụ của tập đoàn cộng sản bị nhân dân nguyền rủa, châm biếm nhiều nhất là Tổng bí thư Lê Duẫn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh Đặng Xuân Khu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tướng Võ Nguyên Giáp:

Ai sinh tên Duẫn tên Duân,
Em đã không quần, cái áo cũng không.
Ai sinh tên Sắt tên Đồng,
Em đã mất chồng, mất cả thằng Cu.
Ai sinh tên Khủ tên Khu,
Tố cha giết mẹ, bỏ tù toàn dân.
Hay:
Thằng Đồng, thằng Duẫn, thằng Chinh,
Tụi mày có biết dân tình cho không?
Rau muống nửa bó một đồng,
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân!
Hoặc:
Ông Đồng, ông Duẫn, ông Chinh,
Vì ba ông ấy dân mình lầm than.
Và:
Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,
Cả ba đồng lòng phá hại nước ta.

Khi Lê Duẫn sang Tàu, sang Nga xin viện trợ súng đạn để đem về pháo kích vào nhà dân, giết hại dân lành thì đồng bào nhại theo bài ca dao “Con Mèo Trèo Lên Cây Cau” để lên án tập đoàn CSBV:

Con mèo trèo lên cây cau,
Hỏi thăm chú Duẫn đi đâu vắng nhà?
Chú Duẫn sang Tàu, sang Nga,
Xin súng, xin đạn cúng ma bác Hồ.

Bản chất của cộng sản là gian ác, vô luân được che giấu dưới mỹ từ “Đạo đức cách mạng vô sản”. Đảng viên càng nhiều tuổi đảng bao nhiêu, giữ chức vụ đảng càng cao bao nhiêu thì mức độ vô luân càng tinh vi bấy nhiêu. Xin hãy nghe người dân chế giễu cái “Đạo đức cách mạng” của các lãnh đạo cộng sản:

Phủ Chủ tịch có con dê,
Làm bao cán bộ vỗ về mệt công..
Dê Duẫn lẩn tránh đám đông,
Tối ngày tìm húc cái lồng không “rê”. (Cái LỒNG không G).

Và khi mà Võ Nguyên Giáp bị phe Lê Duẫn, Lê Đức Thọ làm nhục bằng cách tước hết binh quyền rồi giao cho chức vụ phụ trách “Sinh đẻ có kế hoạch” thì các chị em phái nữ che miệng cười:

Ngày xưa Võ Giáp cầm quân,
Ngày nay Võ Giáp cầm quần chị em.

Còn những chị em khác có óc hài hước, hóm hỉnh hơn một chút thì khúc khích rỉ tai nhaumà rằng:

Ngày xưa Võ Giáp bịt đồn,
Ngày nay Võ Giáp bịt l.. chị em.

Để kết luận, dưới sự cai trị của cộng sản, đồng bào đói khổ, xã hội suy đồi, truyền thống dân tộc bị chà đạp, tự do con người bị tước đoạt. Và cũng dưới sự cai trị của cộng sản mà Việt Nam ta đã trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới, còn xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội nhiều tệ đoan nhất hoàn vũ. Tóm lại, Xã Hội Chủ Nghĩa của cộng sản hoàn toàn thất bại, bị phá sản toàn diện, gây ra những vết thương rỉ máu cho Mẹ Việt Nam và những vết thương rỉ máu này chỉ lành được khi quê hương không còn bóng dáng của những người cộng sản.