Thiên Thai PDF Print E-mail
Tác Giả: Hải Đà – Vương Ngọc Long   
Thứ Năm, 02 Tháng 7 Năm 2009 01:04

Ca dao Việt Nam có câu :
Trèo lên trái núi Thiên Thai
Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây
Đôi ta được gặp nhau đây
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng
(ca dao)

Truyện Kiều của Nguyễn Du có 4 câu diễn tả nhân lúc cha mẹ và hai em vắng nhà, Kiều đánh bạo sang phòng văn của Kim Trọng:
Lần theo núi giả đi vòng
Cuối tường dường có nẻo thông mới vào
Xắn tay mở khoá động đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai
(Câu 389 đến 392)

Nàng Kiều và chàng Kim gặp nhau thì cái phòng văn của chàng Kim đối với đôi bạn tình son trẻ- trai tài gái sắc này nào có khác gì động Thiên Thai.

Thiên thai là tên một hòn núi thuộc huyện Thiên thai, tỉnh Chiết Giang ở Trung Hoa . Sách “Thần tiên truyện” chép: Đời Hán Minh đế, niên hiệu Vĩnh bình (58 sau DL) có hai chàng nho sĩ tên Lưu Thần và Nguyễn Triệu quê đất Diêm Khê. Gặp tiết Đoan Ngọ cũng gọi Đoan dương (mùng 5 tháng 5 âm lịch), theo tục lệ, người ta thường vào núi Thiên thai hái thuốc chữa bệnh. Hai chàng Lưu, Nguyễn cùng đi, nhưng chẳng may bị lạc, không tìm được lối về.

Vơ vẩn trong núi gần tháng trời mà không tìm được lối ra. Lương thực mang theo đã hết đành phải hái những quả đào chín mọng hai bên bờ suối hay ven chân núi để ăn đỡ đói, rồi vốc nước khe mà uống.

Nhìn dòng nước trong núi chảy ra, hai chàng Lưu, Nguyễn thấy có những hột cơm vừng và lá rau tươi lững lờ trôi, nên đoán chắc cách chỗ người ở không xa nữa. Cả hai bèn lần mò theo đường nước chảy, vượt qua mấy ngọn núi liền mới đến đầu ngọn khe thì thấy cây cỏ xinh tươi, phong cảnh cực kỳ đẹp đẽ. Đương ngẩn ngơ đứng nhìn bỗng nghe tiếng gọi, giọng rất thanh tao:
- Lưu, Nguyễn hai chàng sao mà đến chậm thế!

Nghe gọi đích danh mình, hai chàng cực kỳ ngạc nhiên, thì vừa lúc ấy hai cô gái rẽ hoa đi ra. Thực là đôi giai nhân tuyệt thế. Như quen biết nhau từ xưa, hai nàng ân cần mời hai chàng vào động, và xưng tên là Ngọc Kiều và Giáng Tiên. Lưu Thần và Nguyễn Triệu mừng rỡ vì được gặp người- lại người đẹp nữa, nên bằng lòng ngay.

Đến động bước vào nhìn thấy chung quanh toàn trang trí cực kỳ mỹ lệ, đâu đây thoang thoảng mùi hương. Đến bữa cơm, hai nàng dọn cơm vừng và nem dê rừng mùi vị thơm phức, mời hai chàng dùng. Tối lại, một đoàn mỹ nữ đêm mâm đào chín và rượu ngọt đến, đoạn múa hát dưng đào và rượu, chúc tụng “Chúng em xin có lời mừng tân lang và tân giai nhân nên duyên cầm sắt”. Nói xong, họ lại họp nhau vừa múa vừa hát. Xiêm y lộng lẫy, điệu múa uyển chuyển, giọng hát trong trẻo dưới ánh đèn rực rỡ kết tụi ngũ sắc, hai chàng Lưu, Nguyễn say sưa cho mình hạnh phúc lạc vào cảnh tiên.

Đến khuya, tiệc tàn khách về. Hai nàng Ngọc Kiều và Giáng Tiên mời hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu cùng nâng ly chúc tụng nhau đêm tân hôn mặn nồng giữa hai nàng và hai chàng bền duyên giai ngẫu.

Say mê cảnh đẹp, đầm ấm trong tình vợ chồng, hai chàng Lưu, Nguyễn hầu như quên hẳn cảnh trần gian.
Ở đây ngày ngày tháng tháng, tiết trời ấm áp hơn xuân, không Hạ, không Thu, không Đông, đâu đâu cũng cỏ xanh hoa đẹp, bướm muôn màu nhởn nhơ bay lượn, chim hót véo von, trời trong mây thanh gió mát đượm mùi hương phảng phất quanh mình. Nhưng thời gian hai năm trôi qua, cảnh dầu đẹp, vợ dầu xinh, khí trời đầm ấm, cỏ có xanh, hoa có đẹp, bướm lượn, chim hót… cũng không sao xoá được nỗi nhớ quê nhà, nên hai chàng thỏ thẻ với vợ xin về thăm, hẹn thời gian ngắn sẽ quay trở lại. Hai nàng buồn bã ngăn hai chàng, không cho về. Nhưng lòng mơ nhớ cố hương ray rứt người lữ thứ, hai chàng cứ năn nỉ mãi. Biết không lưu chồng được, hai nàng ngậm ngùi, thở dài bảo:
- Nhờ hồng phúc tiền thân mà hai chàng được cùng chị em chúng tôi kết duyên chồng vợ, kẻ tiên người tục hoà hợp chốn Thiên Thai. Tưởng rằng duyên ưa phận đẹp, trăm ngàn năm giữ một chữ đồng. Nào ngờ hai chàng căn trần chưa dứt nên mới luyến nhớ đòi về quê cũ. Cõi trần nhỏ nhen, kiếp trần ngắn ngủi đầy hệ luỵ, hai chàng có trở về chốn trần gian thì liễu cũ hoa xưa chắc không còn được như ngày trước nữa. Chia ly ai chẳng não lòng nhưng nghiệp chướng khó mà diệt nổi.

Thế rồi hai nàng tiễn chân hai chàng ra khỏi động, bịn rịn đưa tận xuống núi. Nhìn xa xa khói lam phủ nóc nhà ai, quanh đi quẩn lại hai chàng ra khỏi núi Thiên Thai, chẳng mấy chốc xuống về quê cũ.

Cây đa cổ thụ đầu làng còn kia nhưng cảnh vật đã khác hẳn trước. Làng xóm toàn người xa lạ, không còn ai có thể nhận ra hai chàng Lưu, Nguyễn là người đồng hương nữa. Cả hai cực kỳ làm lạ. Mới cách chỉ có hai năm, sao cảnh vật lại đổi thay một cách lạ kỳ. Lối cũ không còn. trừ cây cổ thụ đầu làng giờ đã già cỗi, cành lá úa vàng chứng tỏ đã xa lâu lắm rồi và bao lần biến đổi. Bỗng gặp một cụ già tuổi đã gần trăm, hai chàng Lưu, Nguyễn đến hỏi thăm. Cụ già bèn kể lại cách đây độ 400 năm, cụ có một ông tổ bảy đời tên Nguyễn Triệu. nhân tiết Đoan Ngọ cùng bạn là Lưu Thần vào núi hái thuốc rồi biệt tích. Bấy giời Lưu Thần, Nguyễn Triệu mới biết một ngày trên tiên giới bằng một năm ở trần gian. Cả hai bơ vơ, lấy làm hối tiếc bèn rủ nhau trở lại động Thiên thai. Nhưng thảm thay, đi vòng vo, quanh quẩn… cuối cùng lại lủi thủi trở về, vì lối xưa đã lạc mất rồi .. Ở quê cũ cho đến đời Tấn Võ đế (265- 275), Lưu Thần và Nguyễn Triệu mới bỏ đi, không ai còn gặp nữa.
(trích Điển Tích Truyện Kiều- NXB Đồng Tháp)

Chùm thơ “Thiên Thai” của Tào Đường

Tào Đường tự Nghiêu Tân, người Quế Châu (tỉnh Quảng Tây). Ông vốn là một đạo sĩ, nên thơ của Ông mang tâm trạng nhàn dật, thoát ly, có tư tưởng “lạc thiên tri mệnh” , đầy phong cách thanh cao, lồng trong cảnh tiên thơ mộng, trầm lặng và êm đềm, hư hư thật thật, chan chứa khí vị Đạo Học. Thơ của ông miêu tả cảnh thiên nhiên cây cỏ sông núi như một bức tranh sơn thủy hữu tình, với màu sắc êm ái hài hòa, đã tạo nên sự thanh thoát tâm hồn, cuộc đời chỉ là vô thường ảo hóa, hữu hạn mong manh, chẳng có gì đáng bận tâm. Ông để lại những thi phẩm được truyền tụng khá nhiều, đó là : Đại Du Tiên Thi và Tiểu Du Tiên Thi . Chùm thơ “Thiên Thai” của Tào Đường gồm có 5 bài thuộc loại thơ “du tiên” miêu tả sự gặp gỡ và cách biệt giữa Lưu Thần, Nguyễn Triệu cùng hai nàng tiên ở núi Thiên Thai .

1- Lưu Nguyễn Du Thiên Thai

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân
Vân hòa thảo tĩnh, quýnh vô trần
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự
Thủy mộc không nghi mộng hậu thân
Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt
Thời thời khuyển phệ động trung xuân
Bất tri thử địa qui hà xứ
Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân *
Tào Đường

Dịch nghĩa:
Theo hàng cây vào động Thiên Thai, lối đá còn mới
Mây êm, cỏ lặng, không vương chút bụi trần
Nhìn chốn khói mây, không nhớ những việc đã qua
Thấy cây và nước, ngỡ mình tỉnh mộng chiêm bao
Thỉnh thoảng gà gáy dưới trăng bên sườn núi
Đâu nay chó sủa trong động giữa mùa xuân
Chẳng biết nơi nay thuộc nơi chốn nào ?
Phải tới nguồn đào mà hỏi chủ nhân

* Đào nguyên : tên núi ở huyện Đào Nguyên, tỉnh Hồ Nam

Lưu Nguyễn Đi Chơi Núi Thiên Thai

Lối đến Thiên Thai đá trắng ngời
Cỏ cây thanh khiết nhẹ mây trôi
Lãng quên kiếp trước mờ sương khói
Tỉnh giấc mơ này cây nước thôi
Xao xác gà kêu trăng dưới núi
Đâu đây chó sủa động xuân tươi
Ở đây chẳng biết nơi nào nhỉ ?
Chắc đến Đào Nguyên gặp hỏi người ..
Hải Đà phỏng dịch

2- Lưu Nguyễn Động Trung Ngộ Tiên Tử

Thiên hòa thụ sắc ái thương thương
Hà trọng lam thâm lộ diểu mang
Vân đậu mãn sơn vô điểu tước
Thủy thanh duyên giản hữu sinh hoàng *
Bích sa động lý càn khôn biệt
Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường
Nguyện đắc hoa gian hữu nhân xuất
Miễn linh tiên khuyển phệ Lưu Lang
Tào Đường

Dịch nghĩa:
Da trời với sắc cây chen lẫn thành màu xanh biêng biếc
Ráng nặng nề, khí u ám, đường đi vời vợi mênh mang
Mây phủ đầy núi vắng bóng chim sẻ
Nước chảy trong khe như tiếng sáo thổi
Cát biếc trong động tạo một khung trời riêng
Lá đỏ bên cây, ngày tháng dài đăng đẳng
Ước gì trong hoa có người xuất hiện
Để chó tiên khỏi phải sủa chàng Lưu

* Sinh hoàng : “sinh” là loại nhạc khí làm bằng quả bàu có những ống nhỏ khi thổi phát ra tiếng, “hoàng” là mảnh đồng
trong ống “sinh”

Lưu Nguyễn Gặp Tiên Trong Động

Trời, cây xanh biếc mượt như nhung
Khói tỏa âm u lối mịt mùng
Đầy núi mây che chim vắng vóng
Trong khe nước chảy tiếng tiêu vàng
Cát xanh hang rộng khung trời biếc
Lá đỏ cành tươi mãi tháng năm
Mong ước trong hoa người xuất hiện
Chó tiên đâu dám sủa chân chàng
Hải Đà phỏng dịch

3- Tiên Tử Tống Lưu Nguyễn Xuất Động

Ân cần tương tống xuất Thiên Thai
Tiên cảnh na năng khước tái lai !
Vân dịch ký quy tu cưỡng ẩm
Ngọc thư vô sự mạc tần khai
Hoa lưu động khẩu ưng trường tại
Thủy đáo nhân gian đinh bất hồi
Trù trướng khê đầu tòng thử biệt
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài
Tào Đường

Dịch nghĩa:
Ân cần tiễn nhau ra khỏi động Thiên Thai
Cõi tiên đã đi rồi khó mà trở lại lần nữa
Đây rượu tiên (vân dịch) người về hãy cố uống đi
Lá thư quí (ngọc thư) nếu không việc gì chớ mở luôn
Hoa cửa động vẫn còn tươi thắm mãi
Nước chảy về trần không bao giờ trở lại
Bần thần xót xa bên đầu suối, từ nay ly biệt
Trên núi biếc chỉ còn ánh trăng sáng soi rêu xanh

* câu 5 và 6 : “ Hoa lưu cửa động, nước xuôi cõi trần “
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Tiên Nữ Tiễn Đưa Lưu Nguyễn Rời Động

Tiễn biệt Thiên Thai quyến luyến sầu
Cõi tiên lưu lạc khó tìm nhau
Rượu thần vui gượng xin người uống
Thư quí chưa cần chớ mở mau
Trước động hoa tươi còn thắm thiết
Xuống trần nước chảy chẳng về đâu
Xót xa bên suối sầu ly biệt
Núi biếc trăng soi loáng bạc màu
Hải Đà phỏng dịch

4-Tiên Tử Động Trung Hữu Hoài Lưu Nguyễn

Bất tương thanh sắt lý nghê thường *
Trần mộng na tri hạc mộng trường
Động lý hữu thiên xuân tịch tịch
Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang
Ngọc sa dao thảo liên khê bích
Lưu thủy đào hoa mãn giản hương
Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc
Thử sinh vô xứ vấn Lưu Lang !
Tào Đường

Dịch nghĩa:
Không còn ai đem đàn sắt ra gãy khúc Nghê Thường nữa
Người trong mộng trần gian đâu biết mộng tiên dài
Trong động riêng một bầu trời, cảnh xuân yên ắng
Trần gian không có lối về, ánh trăng mênh mang
Trên bãi cát ngọc cỏ tiên xanh biếc ven khe
Theo nước cuốn trôi hoa đào tỏa hương thơm ngát khắp suối
Hạt sương mai, ngọn đèn trước gió dễ tiêu tan
Kiếp này không biết nơi nào để hỏi tìm chàng Lưu

* Nghê thường : “Nghê thường vũ y khúc” là tên nhạc khúc đời Đường Minh Hoàng .

Tiên Nữ Trong Động Nhớ Lưu Nguyễn

Gãy khúc nghê thường chẳng có ai
Mộng trần đâu biết mộng tiên dài
Trời riêng góc động xuân yên ắng
Nẽo khuất dương trần nguyệt úa phai
Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc
Suối thơm đào ngát nước xanh trôi
Mỏng manh sương sớm đèn trong gió
Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai ?
Hải Đà phỏng dịch

5- Lưu Nguyễn Tái Đáo Thiên Thai
Bất Phục Kiến Chư Tiên Tử

Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân
Thương đài, bạch thạch dĩ thành trần
Sinh ca tịch mịch nhàn thâm động
Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân
Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc
Yên hà bất tự vãng niên xuân
Đào hoa lưu thủy y nhiên tại
Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân
Tào Đường

Dịch nghĩa:
Lại tìm đến Thiên Thai thăm hỏi Tiên nữ Ngọc Chân
Rêu xanh đá trắng đã thành tro bụi rồi
Tiếng đàn ca không còn nữa trong động sâu im vắng
Xóm cũ hoang liêu vắng bóng mây và hạc
Cây cỏ không còn giữ màu tươi thắm ngày trước
Ráng khói đìu hiu không giống cảnh xuân năm nào
Hoa đào bên giòng nước chảy vẫn còn y như cũ
Không còn thấy người hầu rượu cho mình lúc bấy giờ …

Lưu Nguyễn Trở Lại Thiên Thai nhưng Không Còn Gặp Tiên

Lại tìm Tiên Nữ động Thiên Thai
Đá trắng rêu xanh bụi phủ đầy
Lặng lẽ hang sâu im tiếng nhạc
Đìu hiu xóm quạnh vắng chim bay
Tàn phai sắc cũ hờn cây cỏ
Hờ hững xuân xưa chạnh khói mây
Nước chảy hoa đào phơ phất đó
Cố nhân hầu rượu chẳng còn đây !
Hải Đà phỏng dịch

Thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn :

Lý Thương Ẩn ngoài những bài thơ vịnh sử nói nên sự hưng vong thăng trầm của các triều đại, phê phán đả kích những xấu xa của đám quan liêu phong kiến, ông còn sáng tác nhiều bài thơ tình , và nổi tiếng trong lãnh vực nầy khi ông đã nói lên sự khao khát nhung nhớ, niềm mơ ước của hạnh phúc lứa đôi, tình cảm tha thiết và hàm súc vô cùng . Chùm thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn gồm 6 bài tình ý sâu sắc, gợi cảm lôi cuốn, tiết tấu nhịp nhàng, âm điệu nhẹ nhàng tinh tế xen lẫn thê lương não nuột .

Những bài thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn đã nói lên cảnh thương đau xót xa ly biệt của hai kẻ yêu nhau mà phải cách xa nhau “biệt dị hội nan” ( chia ly thì dễ, gặp nhau thì khó). Nhà thơ đã đem lại sự hồi tưởng tiếc thương ngậm ngùi, với giấc mộng xuân đã qua mau bất chợt …như một tuồng vân cẩu, một giấc mơ ngắn ngủi , cho kẻ yêu nhau phải xa nhau với sự nhớ nhung oán trách giận hờn . Bài thơ Vô Đề 1 và 3 tác giả đã dùng chốn tiên cảnh “Non Bồng” làm hình tượng tươi mát sống động để vẽ nên một khung cảnh đầm ấm sum họp nhưng đó chỉ là một ảo ảnh của giấc mơ tiên với cảnh “bồng lai” mịt mùng xa cách trùng khơi như câu chuyện của chàng Lưu đã một lần đến được Thiên Thai, rồi phải vĩnh biệt Thiên Thai muôn đời để mãi ngậm hờn than trách : “Lưu lang dĩ hận Bồng lai viễn” (Chàng Lưu oán hận vì phải cách xa chốn Bồng Lai)

Vô Đề – Kỳ Nhất

Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung
Nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung
Mộng vi viễn biệt đề nan hoán
Thư bị thôi thành mặc vị nùng
Lạp chiếu bán lung kim phí thúy
Xạ huân vi độ tú phù dung
Lư u lang dĩ hận Bồng sơn viễn
Cách cách Bồng sơn nhất vạn trùng
Lý Thương Ẩn

Thơ Không Đề – Bài Một

Nàng đến rồi đi cách biệt nhau
Lầu trăng chênh chếch điểm chuông sầu
Cơn mơ ly biệt lời chưa tỏ
Thư viết vừa xong mực úa màu
Ánh nến mờ soi chim phỉ thúy
Xạ hương thơm ngát bức màn khâu
Chàng Lưu hận núi Bồng xa thẳm
Vạn dặm non Bồng chẳng thấy đâu
Hải Đà phỏng dịch

Vô Đề – Kỳ Tam

Tương kiến thời nan, biệt diệc nan
Đông phong vô lực bách hoa tàn
Xuân tàm đáo tử, ti phương tận
Lạp cự thành hôi, lệ thủy can
Hiểu kính dãn sầu vân mấn cải
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị tham khan
Lý Thương Ẩn

Thơ Không Đề – Bài ba

Khó dễ gần nhau, khó cách xa
Gió xuân bất lực rũ tàn hoa
Ruột tằm đứt đoạn tơ còn vướng
Giọt nến thành tro lệ bớt nhòa
Sớm ngắm gương buồn, đầu điểm bạc
Đêm ngâm thơ trách, lạnh trăng tà
Bồng lai mấy dặm không là mấy
Chắc hẳn nhờ chim dẫn lối qua
Hải Đà phỏng dịch

Hình Ảnh Thiên Thai trong thi ca Việt Nam :

Đặt tên cho hòn núi là Thiên Thai thì có thể được. Nhưng vào núi “Thiên Thai” để có một cuộc sống thần tiên như Lưu Thần và Nguyễn Triệu thì chỉ là chuyện hoang tưởng trên cõi đời nầy . Chữ “thiên thai” cũng chỉ là một biểu tượng để diễn tả cảnh tiên hư ảo mà chúng ta vẫn thấy trong thi ca.

Thi hào Nguyễn Du trong thi tập Nam Trung Tạp Ngâm có bài thơ Vọng Thiên Thai Tự nói về núi Thiên Thai ở phía đông thành Huế . Bài thơ sáng tác vào thời gian 1805-1812 khi Ông được thăng hàm Đông các học sĩ , làm quan ở kinh đô 5 năm .

Vọng Thiên Thai Tự

Thiên Thai sơn tại đế thành đông
Cách nhất điều giang tự bất thông
Cổ tự thu mai hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung
Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng do quải cựu thời chung .
Nguyễn Du
(Nam Trung Tạp Ngâm)

Nhìn Lên Chùa Thiên Thai

Thành Đông chót vót núi Thiên Thai
Cách một dòng sông lối rẽ hai
Chùa cổ lá vàng nghiêng mái phủ
Triều xưa sư lão trắng mây bay
Gian nan đầu bạc hoài thương tiếc
Chung thủy non xanh chẳng đoái hoài
Năm trước đến đây còn nhớ lại
Cảnh Hưng* chuông cổ vẫn treo đài
Hải Đà phỏng dịch

*thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786)

Thi sĩ Đông Hồ, ngoài những bài thơ nhẹ nhàng, trữ tình man mác, nguồn thơ cảm hứng từ người yêu trong mộng “Mặt em âu yếm nét nên thơ , Hồi hộp nhìn anh em ngẩn ngơ , E ấp, môi em kề cận má , Ái tình ngan ngát vị say sưa – Đ. H.” , đôi khi người thơ cũng ngây ngất giữa mộng và thực, tỉnh và mơ . Cái tư tưởng thoát tục với niềm mơ ước hoài vọng đôi tình nhân son trẻ đựợc lên chốn thiên thai cõi tiên để chung hưởng nguồn hạnh phúc vô biên, với tuổi xuân xanh vẫn muôn đời bất diệt qua thơ của thi sĩ Đông Hồ :

Cung nguyệt lầu mây, ta với ai
Làm đôi tiên khách ở Thiên thai
Ngàn xuân thu vẫn còn xinh trẻ
Cười cợt hoa chiều, giỡn gió mai
(Đông Hồ)

Thế Lữ hồi nhỏ đã sống ở Lạng Sơn , nơi núi sông hùng vĩ, âm u, với những cảnh thiên nhiên huyền ảo kỳ lạ, đã gây những ấn tượng sâu sắc, độc đáo ảnh hưởng sự nghiệp thi văn của tác giả . Điều nầy có thể thấy qua những câu truyện trinh thám ly kỳ rùng rợn của ông . Những nguồn cảm hứng phong phú kỳ lạ của ông có thể tác động mạnh vào trí tưởng tượng của người nghệ sĩ vốn bản chất thông minh từ nhỏ, và cũng là người đa sầu đa cảm . Khuynh hướng lãng mạn thoát tục cũng xuất hiện qua dòng thơ của Thế Lữ , trong bài Tiếng Sáo Thiên Thai, Thế Lữ đã muốn tạo dựng một khung cảnh Thiên Thai thoát tục ngay giữa cõi trần ô trọc phù phiếm nầy, để giải thoát tâm hồn . Những cõi Thiên Thai của ông có thể chỉ là biểu tượng của cái đẹp tâm linh, ảo diệu và thanh khiết :

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! xa vắng, mênh mông là buồn…
Tiên Nga tóc xõa bên nguồn.
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.
Trời cao, xanh ngắt. — Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng-lai.
Theo chim, tiếng sáo lên khơi,
Lại theo giòng suối bên người Tiên-Nga.
Khi cao, vút tận mây mờ,
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh,
Êm như lọt tiếng tơ tình,
Đẹp như Ngọc-Nữ uốn mình trong không,
Thiên-Thai thoảng gió mơ mòng,
Ngọc-Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay…
Tiếng Sáo Thiên Thai (Thế Lữ)

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã phổ nhạc bài thơ này của Thế Lữ . Theo lời của nhạc sĩ Phạm Duy (trong bài viết “Với các thi sĩ tiền chiến”) :Tiếng Sáo Thiên Thai, thơ Thế Lữ phổ nhạc, là một thử thách bắt thơ phải theo nhạc hơn là bắt nhạc phải theo thơ .. Đây là một bản tango nhẹ, nhịp điệu rất ư dìu dặt, man mác, lơ lửng và thần tiên …”

Tiếng Sáo Thiên Thai
nhạc sĩ: Phạm Duy
thơ/lời: Thế Lữ

Xuân tươi!
Êm êm ánh xuân nồng,
Nâng niu sáo bên rừng,
Dăm ba chú Kim đồng . . .
(Hò xàng xê) Tiếng sáo,
Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng,
Nhạc lòng đưa hiu hắt,
Và buồn xa buồn vắng,
Mênh mông là buồn!

Tiên nga, buông lơi tóc bên nguồn,
Hiu hiu lũ cây tùng,
Ru ru tiếng trên cồn . . .
(Hò ơi làn) Mây ơi!
Ngập ngừng sau đèo vắng,
Nhìn mình cây nhuộm nắng,
Và chiều như chìm lắng,
Bóng chiều không đi…

Trời cao xanh ngắt! Ô… kìa!
Hai con hạc trắng (ư) bay về (ề) nơi nao?
Trời cao xanh ngắt! Ô… kìa! Ô … kìa!
Hai con hạc trắng bay về, về Bồng Lai!

(Đôi) Chim ơi,
Lên khơi sáo theo vời
Hay theo đến bên người,
Tiên nga tắm sau đồi . . .
(Tình tang ôi) Tiếng sáo,
Khi cao, cao mờ vút,
Cùng làn mây lờ lững,
Rồi về bên bờ suối,
Cây xanh mờ mờ . . .

Êm êm, ôi tiếng sáo tơ tình,
Xinh như bóng xiêm đình,
Trên không uốn thân hình . . .
(Đường lên, lên) Thiên Thai!
Lọt vài cung nhạc gió,
Thoảng về mơ mộng quá,
Nàng Ngọc Chân tưởng nhớ,
Tiếng lòng bay xa . . .

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương của tập thơ Say, đầy ngao ngán. chán chường, đã muốn tìm quên trong tận cùng của cảm giác . Giữa đỉnh say của cuồng loạn, du dương, lai láng hồn thơ, cũng đã đắm chìm trong cõi mộng bao la, mơ màng, theo khúc Thiên Thai trầm bổng , mê hoặc ru hồn :

Hãy dừng đây Chàng Say ơi
Cùng lận đận bên trời một lứa
Đêm Hoa Đăng vắng Chàng thoi thóp lửa
Tiếng đàn xênh rời rạc khúc Thiên Thai
Hãy dừng đây sương gió lạnh bên ngoài
Dâng Tình (Vũ Hoàng Chương)

Đàn rưng rưng lệ phách dồn mưa
Tiếng hát tàn rơi hận thuở xưa
Bụi nhuốm Thiên Thai nhòa hứng rượu
Đời sau say giúp mấy cho vừa
Cô đơn men đắng sầu trăng bến
Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa
Nhịp đổ càng mau nghe ríu ríu
Tê rời tay ngọc lúc buông thưa
Dựng (Vũ Hoàng Chương)

Trăng nhô liềm bạc núi Thiên Thai
Ta nhớ chiều xưa Vọng mỹ đài
Cặp mắt là đây, tiền kiếp nhé
Vành cong cong vẽ nguyệt sơ khai
Hương Rừng (Vũ Hoàng Chương)

Hàn Mạc Tử là một thi sĩ phiêu du với mộng ảo, lãng đãng trong chiêm bao của sương khói vô hình . Trong một bài thơ Duyên Kỳ Ngộ của Ông, trong đó có 4 nhân vật là : Suối, Chim, Chàng và Nàng đã đối thoại với nhau, đã đề cập đến những nơi chốn hư ảo như Đào Nguyên , Thiên Thai …. Giọng điệu thơ có những lúc bâng khuâng êm ái, những khi nao nức rạo rực, đôi khi là nỗi thiết tha khắc khoải một cách lạ lùng :

Duyên Kỳ Ngộ (Hàn Mặc Tử)

Tiếng Suối Reo
Đâu gió lên tầng mây che mắt lạ
Ta muôn năm len lỏi ở Đào Nguyên
Nước trong sáng lòng ta thơm vô giá
Sao không ai đi lạc tới non tiên?

Để ta dâng, ta mời ai giải khát
Nếm cho bưa mùi vị nước trường sinh
Ồ tiếng tiêu đâu bay ra man mác
Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.
……………………………………..
Nàng
Mây bay theo với mây bay
Mình sao ra nước non này mà chơi
Sáo ơi, dìu dặt khơi vơi
Buông mau âm điệu để mời nhân gian
Nắng cao ý muốn lan tràn
Ở đây vắng vẻ cây ngàn suối reo
Chim ơi hót khúc tương giao
Có người thục nữ lần vào Thiên Thai
Không gặp ai, chửa gặp ai
Duyên còn ngậm kín, tình hoài miên man
Tiêu tao đến nỗi bẽ bàng
Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ

Rồi đến bài thơ Tống Biệt của Tản Đà. Thi sĩ Tản Đà, từ cảm hứng câu chuyện Thiên Thai mà sáng tác bài Tống Biệt, dù ở một nơi chốn thần tiên sung sướng nhất, nhưng con người xa quê lâu ngày cũng mang một hoài bão hướng về cội nguồn, nơi quê cha đất tổ vẫn mong muốn một ngày trở về, dù là cái cuối cùng là viễn ảnh sầu thương, chẳng ai nhận ra mình, chẳng khác chi bài thơ Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương …

Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đừơng lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi
….
Tống Biệt (Tản Đà)

Bài hát Thiên Thai của Văn Cao, dựa trên cốt truyện Của Lưu Thần và Nguyễn Triệu ở trên , vui sống trong cảnh hạnh phúc thần tiên với giai nhân mà quên cả lối về, để rồi khi về được đến quê lại nuối tiếc cảnh cũ thần tiên khôn nguôi. “Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian . Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần” … là những giọt âm thanh hữu tình chất ngất, đã đưa tình yêu bay bổng giữa khung trời mênh mông bát ngát, lâng lâng giữa thực và ảo .

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên.
Thiên Thai (nhạc sĩ: Văn Cao
)

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên cũng sáng tác nhạc phẩm Đường Nào Lên Thiên Thai cũng dưạ trên cốt truyện thần tiên này … “ Đường nào lên Thiên thai “ … một câu hỏi, một ước vọng, một gợi cảm, dẫn dắt vào thế giới hoan lạc, lung linh và huyền nhiệm ..ở đó có Rượu Đào, Suối Ngọc, Tiếng Nhạc, và Tiên Nữ trong một không gian kỳ diệu có hoa xuân không tàn, bướm xuân không nhạt, và tình xuân không úa màu …

Cầm tay em anh hỏi
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

Ngày xưa sao Lưu Nguyễn,
gặp đường lên Thiên Thai,
Nhạc vàng ai mê say,
Rượu Đào ai ngây ngây
Suối Ngọc reo dưới bước chân đi,
Tiếng Nhạc tiên quyến luyến xiêm y,
ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai

Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi trời đất còn vương thương đau,
khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu

Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi lòng còn như băng buốt giá
Và tình còn e ấp, nói không thành lời

(Nhưng rồi)
Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.
Đường Nào Lên Thiên Thai (nhạc sĩ: Hoàng Nguyên)

Chất liệu trong kho tàng ca dao nhân gian Việt Nam thường cụ thể, điển hình, nhưng rất đa dạng, phong phú, tinh tế và hàm súc. Bài Lý Thiên Thai là một điệu dân ca miền Trung thổ lộ những tình cảm chân thật của con tim bằng những lời ca thân mật và nồng nàn, đậm đà phong vị dân tộc, bắt nguồn từ những câu ca dao quen thuộc lưu truyền trong nhân gian : “Trèo lên trái núi Thiên Thai . Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây …” hoặc “Ai đem con sáo sang sông … Để cho con sáo sổ lồng bay cao …” ?

Lý Thiên Thai
nhạc sĩ: (Dân Ca)
thơ/lời: Dân ca miền Trung (Quảng Nam)

1. Xem lên hòn núi, hòn núi ta ni nọ thiên thai
Thấy (y) đôi, thấy (y) đôi con chiền chiền chiện
Thấy (y) đôi, thấy (y) đôi con chiền chiền chiện
Ta ni nọ (y) ăn xoài a y a, ăn xoài chín cây

2. Ai đem con sáo, con sáo ta ni nọ sang sông
Để (y) cho, để (y) cho con (a) con sáo
Để (y) cho, để (y) cho con (a) con sáo
Ta ni nọ (y) sổ lồng a y a, sổ lồng bay xa

3. Xăm xăm đồng cỏ, đồng cỏ ta ni nọ đi ra
Áo (y) đen mà áo đen thêu rồng rồng bạc
Áo (y) đen mà áo đen thêu rồng rồng bạc
Ta ni nọ (y) xinh đà a y a, xinh đà quá xinh

Ngoài “Thiên Thai” , còn có những danh từ khác như Bồng Lai, Đào Nguyên, Động Đào, Động Bích là chốn tiên cảnh, nơi thần tiên ở, chẳng qua để chỉ chỗ hạnh phúc tuyệt vời, nơi chốn thanh tao, tiên cảnh không có trên cõi trần này :
Sau khi du Thanh minh về Kiều nằm mộng:

“ Thoắt đâu thấy một tiểu kiều
Có chiều phong vận có chiều thanh tân
Sương in mặt tuyết pha thân
Sen vàng lững thững như gần như xa.
Rước nàng đón hỏi dò la:
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?

Theo “Đào hoa nguyên ký” của Đào Tiềm (365 -427), một nhà thơ văn đời Đồng Tấn, có một ngư phủ huyện Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược theo bờ suối. Càng đi xa chừng nào thì thấy càng có nhiều hoa đào trôi theo dòng nước đổ xuống. Đến một quãng bỗng thấy trước mặt hiện ra một rừng đào. Hoa đào đỏ rực rỡ làm cho ngư phủ càng thấy say sưa, thích thú. Nghĩ rằng có người ở gần đấy nên bỏ thuyền lên bờ. Vượt qua rừng đào đến một ngọn núi, dưới chân núi có một cái hang nhỏ hẹp vừa một người chui được, bên trong thấy thoáng có ánh sáng.

Gợi tính tò mò, ngư phủ lách mình vào cửa hang. Lúc đầu cửa hang còn hẹp, sau rộng dần. Rồi cả một thế giới hiện ra: ruộng vườn tươi tốt, thôn ấp, nhà cửa liên tiếp nhau. Gà gáy, chó sủa nghe rõ mồn một. Trai gái đều say sưa công việc đồng áng . Trên mặt mọi người hiện vẻ vui tươi, chất phát, hồn nhiên. Người già, trẻ con đều có vẻ ung dung, thanh thản. Họ thấy ngư phủ thì lấy làm kinh ngạc hỏi làm sao đến được chốn này? Ngư phủ trình bày sự thật. Các phụ lão đem vợ con ra chào mừng khách lạ, dọn cơm rượu thịnh soạn đãi đằng. Ngư phủ ăn uống lấy làm ngon lạ, vì tuy cơm rượu mà tính chất khác thường. Các phụ lão lại nói: “Đây là động Đào Nguyên. Tổ tiên chúng tôi tránh học đời Tần, đem cả gia đình vào ở đây, từ đó cách biệt với bên ngoài…”

Cuối cùng họ dặn ngư phủ: sau khi ra khỏi chốn này, xin đừng cho ai biết có họ ở đây. Lão ngư phủ ở chơi một hôm rồi cáo biệt. Ngư phủ cho mình may mắn gặp được tiên. Khi trở về nhiều người đến thăm hỏi, trước đó còn tìm cách giấu quanh. Chuyện thấu đến quan Thái thú sở tại, ngư phủ đành phải thuật cả việc lại. Có tính hiếu kỳ, viên Thái thú sai người đi theo ngư phủ tìm lại động Đào Nguyên nhưng bị lạc đường đành phải trở về. (trích Điển Tích Truyện Kiều – NXB Đồng Tháp)

Đào Nguyên Hành

Ngư chu trục thủy ái sơn xuân
Lưỡng ngạn đào hoa giáp cổ tân
Tọa khan hồng thụ bất tri viễn
Hành tận thanh khê hốt trị nhân
Sơn khẩu tiệm thành thủy ôi úc
Sơn khai quảng vọng triền bình lục
Dao khan nhất xứ toản vân thụ
Cận nhập thiên gia tán hoa trúc
Tiều khách sơ truyền Hán tính danh
Cư nhân vị cải Tần y phục
Cư nhân cộng trú Vũ Lăng nguyên
Hoàn tùng vật ngoại khởi điền viên
Nguyệt minh tùng hạ phòng lung tĩnh
Nhật xuất vân trung kê khuyển huyên
Kinh văn tục khách tranh lai tập
Cạnh dẫn hoàn gia vấn đô ấp
Bình minh lư hạng tảo hoa khai
Bạc mộ ngư tiều thừa thủy nhập
Sơ nhân ti địa khứ nhân gian
Cánh văn thành tiên toại bất hoàn
Giáp lý thùy tri hữu nhân sự
Thế gian dao vọng không vân sơn
Bất nghi linh cảnh nan văn kiến
Trần tâm vị tận tư hương huyện
Xuất động vô luân cách sơn thủy
Từ gia chung nghỉ trường du diễn
Tự vị kinh qua cựu bất mê
An tri phong hát kim lai biến
Đương thì chỉ kí nhập sơn thâm
Thanh khê kỷ độ đáo vân lâm
Xuân lai biến thị Đào hoa thủy
Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm
Vương Duy

Bài Hát Nguồn Ðào

Thuyền trôi giữa suối xuân mơ
Bến xưa đào nở đôi bờ ngát hoa
Ngắm cây chẳng biết đường xa
Ðến Thanh Khê thấy người qua tình cờ
Lần theo động nước quanh co
Cửa hang mở rộng ai ngờ bình nguyên
Cỏ cây mây khói một miền
Nghìn nhà, hoa, lá trúc chen mịt mù
Truyện xưa có kẻ tiều phu
Áo quần Tần Hán dân cư vẫn dùng
Vũ Lăng sum họp vui cùng
Ruộng vườn chăm chỉ chẳng màng chuyện ai
Nhà im trăng tỏ đêm dài
Xôn xao gà chó ban mai ánh hồng
Chợt nghe khách đến mà mong
Dành nhau thăm hỏi xóm làng quê xa
Sớm mai hoa rụng sân nhà
Chiều hôm ngư phủ vượt qua suối về
Xưa vì lánh nạn rời quê
Gặp chốn tiên chẳng muốn về quê đâu
Ai ngờ người ở núi sâu
Cõi trần xa cách mây sầu giăng che
Cảnh tiên khó thấy khó nghe
Lòng trần chưa dứt muốn về quê hương
Núi sông xa cách đoạn trường ….
Về rồi lại muốn tìm đường đi xa
Tướng rằng không lạc lối qua
Ai ngờ cảnh cũ khác ra lúc nào
Nhớ ngày đã vượt núi cao
Rừng mây cách suối là bao dặm đường
Xuân về đào suối ngát  hương
Mịt mùng tiên cảnh biết phương nào tìm ?
Hải Ðà phỏng dịch

Từ hai chữ “Đào Nguyên” đó mà nhiều thi nhân Việt Nam đã đưa vào những dòng thơ trữ tình thuần khiết, với những ngôn ngữ biến hóa lạ lùng như thi sĩ Bích Khê đã vẽ nên những hình ảnh gợi cảm hư hư thật thật, những sắc màu lung linh diệu ảo, những thanh âm trầm bổng hư huyền. Đó một thế giới thơ nhập nhòa đầy tượng trưng, bằng những xúc cảm trước cõi vô hình :

Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng,
Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp
Say nhạc hường nổi bổng giữa đào nguyên
.
Cặp Mắt (Bích Khê)

Hoa thần bí vấn vương hồn ngọc nữ;
Động đào nguyên chấp chóa ánh lưu ly;
Ô ! sắc phàm trên bộ mặt từ bi;
Ô ! tiên nương trong tình xuân đầy ứ;
Một u sầu dìu dịu của cung phi.
Sọ Người (Bích Khê)

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi
Tỳ Bà (thơ Bích Khê)

Nàng ơi ! đừng động .. có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động
Ô nàng tiên nương ! hớp nhạc đầy hương
Nhạc (Bích Khê)

Nhà thơ Tình Nguyên Sa qua ngọn bút tài hoa, đã chọn một ẩn dụ cao quí, sang trọng, và vô cùng duyên dáng khi so sánh “Mỗi ngón tay em, Anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên ..” , đã dựng lên một hình tượng thơ kỳ lạ, dạt dào mỹ cảm, cho cảnh vật lưu luyến và đất trời giao duyên :

Em sẽ về, phải không em
Có gì đâu mà khó khăn, trắc trở
Chúng mình lại đi
Trên con đường chạy dài hoa cỏ
Là những đồn phòng ngự của tình yêu
Mỗi ngón tay em
Anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên
Và anh: sẽ trở lại nguyên hình
Một anh chàng làm thơ
Mà suốt đời say rượu cúc
Có Phải Em Về Đêm Nay (Nguyên Sa)

Thơ của Vũ Hoàng Chương là một bản hòa tấu tình yêu say đắm trong huyễn mộng, chơi vơi những cung bậc xao xuyến, chập chờn nghiêng ngả với những thanh âm êm ái huyền diệu của vũ trụ bao la giữa trời, mây, sông, nước mênh mang chập chùng …

Chiều đã tím ở lưng chừng dẫy núi
Sắc thu mờ lơ đãng dáng hoàng hôn
Lặng nằm nghe bốc tự đáy linh hồn
Nỗi thương mến xa khơi tình kiếp trước
Sóng ngủ dưới chân thuyền im gió nước
Đã ai say lạc bước tới Vô Cùng
Sương đầy khoang nghe thấp thoáng hoa dung
Mà lối cũ Đào Nguyên chừng hé mở
Đào Nguyên Lạc Lối (Vũ Hoàng Chương)

Một xuống non xanh rối nẻo về
Tóc nào mây tám ngả sơn khê
Châu Lương mà có chàng ngư phủ
Nhận dấu Đào Nguyên bước bước mê

Hương Rừng (Vũ Hoàng Chương)

Thế giới thơ của Hàn Mạc Tử là nơi hội tụ của tượng trưng, siêu thực, huyền diệu, tâm linh, của khát khao, ước vọng, của đau đớn, cuồng điên và đam mê. Bài thơ Mơ Duyên của Hàn Mạc Tử là chuỗi liên kết lãng mạn siêu hình, dẫn dắt từ ảo mộng này đến ảo mộng khác, chập chờn ẩn hiện những chốn thiên tiên . Cõi thơ của Hàn Mạc Tử dày đặc chiêm bao, ẩn khuất hư vô, như chính Ông đã thổ lộ “Từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao . Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết …” (Chơi giữa mùa trăng – HMT)

Non nước tâm tình rộng bốn phương
Đòi em làm Nhạc, tôi làm Hương
Đêm nay đại yến Lâm Xuân các
Điêu Thuyền đàn khúc Tề Vương

Xong rồi đôi ta qua Đào Nguyên
Em làm rượu ngọt, anh làm men
Tiên cô không đợi duyên mời mọc
Say thôi gò má đỏ rần lên.

Liêu Tây bây giờ đang chiêm bao
Bao giờ ly biệt đến phương nao
Ước chi ta hóa làm Lê Ảnh
Để khóc thương nhau đến bạc đầu .
Mơ Duyên (Hàn Mặc Tử )

Thế giới thơ của Bùi Giáng là bủa vây giữa những khối sầu không dứt, cái cay đắng ngậm ngùi của thế thái nhân tình, của bản thể đau thương, không phải lúc nào cũng ngông cuồng khác lạ, mà đôi khi giọng điệu thơ của Ông rất tha thiết dịu dàng, và khao khát trữ tình :

Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bổng như hươu
Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu
Những Nhánh Mai (Bùi Giáng)

“Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu” bắt nguồn từ câu chuyện “Động Bích Đào” với chàng Từ Thức
Động ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, bên mặt núi Trần Phù thuộc tỉnh Thanh Hoá. Tương truyền đời nhà Trần, niên hiệu Quang Thái (1388 – 1398) có ông Từ Thức làm quan Tể huyện Tiên du ( tỉnh Bắc Ninh). Bên cạnh huyện có một ngôi chùa có trồng một cây mẫu đơn. Mỗi khi nở hoa thì người các nơi đổ đến, xe ngựa dập dìu.

Trong khi mọi người nhìn ngắm hoa đẹp, bỗng có một thiếu nữ dung nhan diễm lệ bước đến, đưa tay ve vuốt lấy hoa. Nhưng chẳng may khi vịn lấy một cành mẫu đơn thì cành giòn bị gãy. Người giữ hoa giữ nàng lại, bắt đền. Nàng không có vật gì đền. Và, mãi đến tối cũng không có người quen đến nhận. Nàng khóc. Từ Thức thấy thế động lòng thương xót, liền cởi áo bạch cẩm cừu đưa cho nàng chuộc tội, để được thả về.

Một thời gian sau vì không muốn ràng buộc bởi lợi danh, Từ Thức trả ấn từ quan về ở huyện Tống Sơn. Rồi ngày ngày, Từ với một con thuyền, một bầu rượu, túi thơ chu du khắp danh lam thắng cảnh. Một hôm nhìn thấy cửa biển Thần Phù có đám mây năm sắc kết tụ hình hoa sen, Từ vội chèo thuyền đến, thấy một hòn núi rất đẹp, lòng sinh cảm khái, nhân đề một bài thơ. Từ đề thơ xong nhưng bỡ ngỡ chưa biết đường nào đi, thoạt thấy vách đá tách mở ra một chỗ tròn khoảng trên một thước. Từ đi bộ chen mình vào, nhưng được vài bước thì vách đá khép kín lại. Đi được vài dặm thấy sườn đá đứng thẳng như bức tường. Từ lần leo lên, mỗi bước thấy đường càng rộng. Đến chót núi thì thấy có ánh mặt trời chiếu xuống. Nhìn quanh bốn phía thấy một dãy lâu đài cực kỳ lộng lẫy như tranh vẽ. Từ đương lấy làm ngạc nhiên, bỗng thấy có một đồng nữ áo xanh đến bảo:
- Phu nhân tôi xin mời tướng công vào!

Từ mừng rỡ vâng lời. Thẳng vào thì thấy một phu nhân đương ngồi trên giừơng chạm thất bảo, bên cạnh có đặt một cái tháp nhỏ bằng đàn hương. Phu nhân mời Từ ngồi ung dung bảo:
- Đây là hang động thứ sáu trong số 36 động ở Phù Lai. Ta đây là Ngụy phu nhân địa tiên Nam nhạc , nghe nhà ngươi có cao nghĩa hay cứu trợ người khốn đốn nên mới cho rước đến đây.

Đoạn, phu nhân gọi một cô gái đến.

Từ liếc nhìn, nhận ra là thiếu nữ làm gãy hoa ngày trước. Phu nhân chỉ cô gái, bảo Từ:
- Đó là con ta tên Giáng Hương. Khi truớc nhờ ngươi cứu việc làm gãy hoa, ơn ấy không quên nên ta muốn kết làm giai ngẫu để trả.

Từ rất vui mừng. Ngay trong đêm ấy, phu nhân truyền thắp đèn mở phụng, trải phụng, trải chiếu vũ rồng, cho Từ cùng Giáng Hương làm lễ giao bôi.

Thấm thoát đã được một năm. Nhưng cảnh tiên không khuây khoả được lòng trần, Từ bỗng dưng động lòng nhớ cố hương nên ngỏ ý với Giáng Hương cho về thăm. Biết không giữ được, nàng đành thưa với mẹ. Phu nhân biết Từ còn nặng lòng trần nên bằng lòng, cho Từ một chiếc xe bằng mây “Cẩm xa vân” để đưa về. Riêng Giáng Hương giao cho Từ một phong thư, dặn về đến nhà hãy mở ra xem.

Đến nhà, nhìn quanh cảnh cũ không còn như xưa, thành quách nhân dân không còn như trước, duy cảnh núi sông thì còn như độ nào. Từ đem tên họ mình mà hỏi thăm người già, thì có người bảo:
- Thuở tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng tên họ như ồng, đi vào núi mất đến nay có gần trăm năm rồi.
Từ Thức bấy giờ mới bỡ ngỡ, bùi ngùi, muốn lên xe mây để về chốn cũ thì xe đã hoá thành con tường loan bay mất.
Buồn tủi, Từ mở thư của Giáng Hương xem, chỉ có câu ngắn ngủi: “Kết loan lữ ư vân trung, tiền duyên dĩ đoạn; phỏng trên sơn ư hải thượng, hậu hội vô nhân”. (Kết bạn loan trong mây, duyên trước đã dứt, tìm núi tiên ở trên biển, hội sau khôn cẩu). ý nói, duyên trước kết đôi loan phụng cùng nhau nay đã đoạn tuyệt rồi; ngày sau muốn tìm lại núi tiên cũng không được nữa.
T
uyệt vọng hoàn toàn. Từ đó, Từ Thức mặc áo Khinh cừu, đội nón lá vào núi Hoàng Sơn ở huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hoá) rồi biệt tích.
(trích Điển Tích Truyện Kiều – NXB Đồng Tháp)

Câu chuyện này xảy ra đời Trần, động tiên còn gọi là “Động Từ Thức”, ở tỉnh Thanh Hoá (Việt Nam), có nghĩa là cõi tiên mơ ước: “Từ lang chớ để lạc vào non tiên…” (Bích Câu kỳ ngộ)

Em vẫn sống trong mảnh hồn chia cắt
Trong phân ly Từ Thức đã về trần
Và buồn ơi cứ rơi đầy hố mắt
Biết tìm ai đẩy hộ cỗ xe tang .
Về một nỗi buồn (Lâm Hảo Dũng )

Từ quan treo ấn thong dong
Thả thuyền suối tóc xuôi dòng thần tiên.
Mảng vui lạc ngả Đào Nguyên,
Xin cho tá túc vì quên đường về.
Hoa Pháo Hồng (Đào Tiến Luyện)

Lê Quí Đôn có bài thơ “Đề Động Từ Thức” cũng chỉ muốn nói lên cái chuyện hoang đường giả tưởng không có thật trên cõi đời thường :

Đề Động Từ Thức

Văn đạo thần tiên sự diểu mang
Bích đào động khẩu thái hoang lương
Càn khôn nhất hạt cùng Từ Thức
Vân thủy song nga lão Giáng Hương
Thạch động hữu thanh khao hiểu nguyệt
Diêm điền vô vị nát thu sương
Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng
Thùy thức Thiên Thai diệc hí trường
Lê Quý Đôn

Dịch nghĩa
Nghe nói chuyện thần tiên chỉ là điều mộng ảo
Cửa động Bích Đào nay thật tiêu điều xơ xác
Khắp đất trời, Từ Thức với manh vải thô đi tìm tiên
Giữa cảnh mây nước, Giáng Hương ngong ngóng đến già
Trăng gần sáng, trong động đá nghe như có tiếng kêu vang
Sương thu thấm ướt bãi muối, muối thành nhạt nhẽo vô vị
Người đời cho rằng đó cũng như chuyện Thiên Thai
Nhưng ai đâu ngờ rằng Thiên Thai chỉ là chuyện đùa mà thôi

Mơ mộng thần tiên chuyện có đâu
Bích Đào cửa động cảnh u sầu
Đất trời chàng Thức tìm mong mãi
Mây nước nàng Hương ngóng bạc đầu
Trời sáng trăng chờ vang động đá
Đêm thu sương đẫm muối phai màu
Người đời xem đó thiên thai mộng
Đâu biết Thiên Thai chỉ chuyện đùa …
(Hải Đà phỏng dịch)

Kết Luận : Hình ảnh “Thiên Thai, Bồng Lai, Đào Nguyên” cũng chỉ là một biểu tượng đẹp, kết hợp từ cảm quan và nhận thức mơ hồ, trừu tượng, mang tính chất ước lệ lý tưởng, chỉ để diễn tả một nơi chốn thần tiên hạnh phúc muôn đời, một thế giới huyền thoại thần kỳ mà chắc chắn không có thật trên cõi đời thường nầy. Các thi nhân thường dùng hình ảnh tươi mát nầy đem vào những dòng thơ trữ tình chỉ để muốn nói lên cái khát khao hạnh phúc của tình yêu nam nữ với một tình ý thanh cao, trong sáng. Hình ảnh đó cũng chỉ là một ảo tưởng, gợi ra những cảm xúc nghệ thuật thanh khiết lành mạnh, những hình ảnh tươi mát rạng rỡ, đề cao cái đẹp của tình yêu trai gái đa dạng và phong phú. Phải chăng những nhà thơ Đường trong tâm trạng ẩn ức, dồn nén, đã muốn dùng những hình ảnh mơ mơ thật thật đó, là chỉ giải tỏa nội tâm, muốn bộc lộ cái khía cạnh tâm hồn một cách chân thật thiết tha trước những giáo điều khô khan áp chế của lễ giáo nho gia, hệ thống luân lý hủ lậu và chế độ phong kiến nghiêm ngặt không muốn chấp nhận cái rung động đậm đà và cảm xúc nồng cháy của tình yêu trai gái trong nhân gian .