Tài liệu cũ của Saigon Echo
từ 2008 - 2012
Play
Giám Đốc: Tiến Sĩ Trần An Bài
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Trải qua một cuộc bể dâu

xom dao
Thị xã Vũng Tàu như lên cơn sốt, càng ngày càng đầy ứ người tỵ nạn từ khắp chốn loạn lạc đổ dồn về. Người ta sống chen chúc dưới bóng giáo đường, trong khuôn viên trường học, trong những hàng hiên rợp bóng dừa lao xao.Vị linh mục áo chùng đen trong vai người Samari lớn tiếng kêu gọi lòng từ tâm của đám chiên ngoan: “Nhà ai còn chổ trống xin mở cửa ra đón những người lánh nạn đang sống cảnh màn trời chiếu đất”.

Gia đình tôi cũng chạy bom đạn nhưng may mắn hơn, được xếp cá mòi trong nhà người chú đi lính Hải Quân. Buổi sáng ngày 28 mẹ tôi thất thần khi hay tin cầu Cỏ May bị giật sập mà bố và người anh theo dòng người di tản vẫn còn kẹt ở đâu đó bên kia cầu.Người chú vội vã về ngay trong buổi trưa đón người nhà di tản. Trong giờ phút tan tác ấy mẹ quyết định ở lại, sống chết có nhau không đi đâu hết. Mặc kệ ai theo tàu ra khơi ra đảo. Có lẽ việc đó quá phiêu lưu đối với bà, và mẹ tôi người đàn bà chỉ quen nương bóng chồng đã có một quyết định dứt khoát ngược đường trở về với chồng con còn kẹt lại bên kia chiếc cầu đã gãy.Nhưng quyết định này đã dằn vặt bà trong suốt những năm dài dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Chẳng riêng gì mẹ, mà bố cũng hối tiếc vì mẹ đã bỏ lỡ mất cơ hội đem các con thoát khỏi Việt Nam trước khi bức màn sắt vồ chụp xuống cả nước! Là người từng chứng kiến cảnh đấu tố địa chủ, ông đã phải bỏ của chạy thoát thân trên con tàu há mồm xuôi Nam, bố biết rành những khổ nạn, cùng tang thương dâu bể sẽ đến với những con người miền Nam yêu chuộng tự do công bình bác ái lẽ phải.

Người lớn có những nỗi khổ ngầm, những niềm đau riêng chôn sâu giấu kín trong lòng. Nhưng tôi, đứa con gái tập tểnh gieo vần lục bát ở bậc trung học, tôi chưa lớn khôn, nhưng cũng chẳng còn hồn nhiên mà nhìn đời sống quanh mình đang thay da đổi thịt, và như thế tôi đã có mặt trong cơn đại hồng thủy miền Nam từ những ngày còn vẽ hoa trên trang giấy mới, ép lá trắc bá diệp vào sách vở thơm tho, như ôm giấc mơ thuộc bài ở những kỳ thi lục cá nguyệt, và thả ước mơ hồng lên khung trời ngà ngọc xanh biếc, như thả những con diều no gió bay lượn trên không. Trước 1975 tôi chưa góp mặt vào thế giới người lớn, nên tôi có toàn quyền mơ mộng, tôi vẽ vời cho mình một chân trời tương lai rộng mở, ở đấy có hoa thơm có quả ngọt, có những nàng tiên hằng ban phát phúc lộc cho người thiện tâm. May quá chẳng ai lại đi đánh thuế cái người mơ mộng. Tôi chắc chắn sẽ còn ngốc dại trong thế giới của riêng tôi thêm nhiều năm tháng nữa nếu không có ngày đổi đời nghiệt ngã ấy. Mặc dù là còn nhỏ chưa được góp mặt với đời, cho dù là vô can, cho dù chẳng ân oán gì với chế độ Cộng Hòa thế hệ chúng tôi vẫn không được buông tha, vẫn bị đẩy lên làm người lớn sớm hơn số tuổi của mình rất nhiều, song chẳng phải chúng tôi khôn hơn người, mà vì phải lớn lên ngay để chia gian lao cùng người.

Xóm đạo ven quốc lộ 1 của tôi bị pháo kích tơi bời, chứng tích tàn phá kinh hoàng của bom đạn còn lưu lại những mái nhà bị cháy trụi hoặc sụp đổ, những miếng tole vương vãi đó đây, cây cột điên siêu vẹo dây điện đứt bò ngổn ngang, quanh cảnh xóm đạo điêu tàn. Chúng tôi thu gom chắp vá từng miếng tole mảnh ván, nhà ai cũng lo gầy dựng lại mái tole mái lá miễn sao có mái nhà che nắng trú mưa. Hàng xóm gần nhà là chị Thao với hai con mắt đỏ hoe, không biết phải gọi chị là gì sau cuộc đổi đời? Góa phụ chăng? Đã ai làm chứng chồng chị chết ở đâu? Mãi về sau cũng chẳng ai biết chồng chị sống chết ra sao. Một mình chị chèo chống tả xung hữu đột lo đàn con nhỏ dưới mái nhà bị hư hại một bên vách. Lũ trẻ cũng giã từ những trò chơi trốn tìm, đếm ô ăn quan. Chúng tôi giống như những ông cụ non bà cụ non lon ton lao động, theo đúng khẩu hiệu “lao động là vinh quang lang thang là chết đói, hay nói là vào tù!” Những buổi chiều tối, mấy chị em hay ngồi trên bệ đá gần cái giếng nước, chỗ ngồi quen thuộc sau cuộc đại nạn vẫn còn nguyên vẹn, chỉ ngặt một điều là chỗ ngồi gần cây cột điện bị nhà nước ưu ái gắn loa phát thanh bắt chúng tôi phải nghe thứ âm thanh léo nhéo rất nghịch nhĩ.

Bà trung tá Khảm về quê chồng báo tin “Anh Khảm bị bắt rồi!”

Mới nhìn tôi tưởng ai chứ, sao mà thay đổi mau đến vậy. Những ngày xưa ấy, ngày còn tự do ấm no, mỗi lần bà về quê chồng bằng xe jeep, tà áo lượt là đầu tóc bới cao môi tươi mắt chào, nét dáng thanh cao ngày nào bây giờ bơ phờ bạc phếch nhếch, nhác đầu tóc rũ rượi nói trong nghẹn ngào “Anh Khảm bị bắt rồi.”

Tôi cảm thương bà, vì bà giống như người ở trên ngôi cao chín tầng bị rớt xuống đáy vực cơ hàn. “xưa sao phong gấm rủ là nay sao tan tác như hoa giữa đường.” Không biết ông nghĩ sao nếu trông thấy bà xác xơ như thế? Chẳng riêng phu nhân trung tá Khảm mà cả miền Nam bị đổi ngôi cùng khốn như nhau. Ngoại trừ những tên 30 tháng 4, sau bao nhiêu năm nằm vùng, bây giờ mới có dịp đứng vùng tận hưởng hào quang le lói của cách mạng. Còn hầu hết những người dân thường ai cũng xếp lại quần lãnh áo the, họ che thân bằng những loại vải thô đậm màu.

Lũ con gái trong xóm đạo mỗi ngày mỗi lớn, khốn thân tôi vì chiếc áo dài tơ trắng năm nào không còn xỏ tay vào được nữa. Không có áo dài mặc đi nhà thờ, bà chị họ thương tình tặng cho chiếc áo dài màu tím than, thứ màu sắc của những người con gái sầu mộng chọn may áo để tang cho cuộc tình không vuông tròn. Tôi chưa yêu ai, tôi chẳng có ai yêu thế mà cũng phải mặc áo tím như những người con gái mộng sầu, thật oan ơi ông địa. Nhưng biết làm sao hơn, tôi phải có chiếc áo dài mặc đến nhà thờ mỗi tuần một lần như đi trả nợ. Làm chiên ngoan lấy điểm với xóm làng chứ không phải với Chúa độ lượng, vì Chúa ở đâu xa lắm. “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người.” Tôi thấy cuộc đời lúc ấy sao mà xấu đau xấu đớn, xấu như người đàn bà có nhan sắc của người đàn ông mặt rỗ. Cũng tại cuộc đời không đẹp, khiến tôi tan biến hết mơ mộng, tôi chân đất đời thường như mọi người, chỉ mong sao nhà mình có đủ gạo nấu cơm độn chia phần cho cả nhà! Người bố tuyệt vọng sinh bạo bệnh qua đời, để lại mẹ gánh nặng oằn vai, và cái đói đang gầm gừ đe dọa từng người một trong mái nhà chắp vá vừa trải qua đại tang. Bao nhiêu vốn liếng bố mẹ mới đầu tư vào cửa hàng ngũ cốc trước 75 giờ đi đàng nhà ma, mẹ trắng tay chẳng còn lại gì, gia đình tôi vô sản cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Rồi những mùa đông tới mang theo khí lạnh khác thường. Chúng tôi chẳng ai có manh áo ấm nên thân. Sống trong vùng nhiệt đới với hai mùa mưa nắng luân phiên, mùa đông chỉ thoáng qua cho những người con gái nhà giầu làm dáng, ấy thế mà có những mùa đông rất lạ đã theo chân nón cối dép râu vào quê tôi gieo khó không ít cho những người không có áo ấm, chúng tôi co ro trong manh áo đơn vào những sáng mờ sương. Các cụ Bắc kỳ di cư nói.

-Khí hậu miền Bắc đã theo chân các anh bộ đội vào Nam.

Tôi vốn không ưa những gã “cóc xanh” tôi ghét lây cả khí hậu lạnh miền Bắc xâm lăng miền Nam và tôi nôn mửa luôn cái chế độ đã khiến mình già trước tuổi. Tôi là người bị dị ứng với những gì thuộc về chế độ mới. Nhưng yêu hay ghét thì cái loa trước nhà vẫn bắt tôi nghe những bài tình ca dị hợm, mà sau này tôi gọi là “Tình ca người mất trí.” khốn nỗi không biết tránh cái âm thanh tai quái đấy ở đâu, đành phải chịu trận ngày hai buổi mờ sáng và chiều tối. Càng nghe tôi càng nhớ những những âm thanh rộn ràng nhạc ngoại quốc lời Việt qua giọng hát TL. Nhưng âm thanh tôi yêu thích đã tắt lịm, đã bị dán nhản “văn hóa đồi trụy” một cụm từ sắc bén như mã tấu, sẵn sàng cứa vào cổ người nào dám chống đối.

Sáng nay không khí xóm đạo sôi sục với tin cha xứ bị du kích bắt, vì bị nghi theo tàn quân kháng chiến. Chỉ là nhà tu hiền lành, mà công an du kích đeo súng vào đến tận nhà xứ “người thách nước kẻ tay dao đầu trâu mặt ngựa ào ào như xôi.” Không còn vị linh mục rao giảng ơn cứu độ giữa đời, không khí nhà thờ trầm lắng xa vắng, những cụ già lụ khụ chống gậy đến đọc kinh chiều. Họ vào nhà thờ để thở than với Chúa với nhau. Còn tôi là đứa con gái đang cạn kiệt niềm tin, tôi chả còn tin Chúa có mặt trong bể khổ mênh mông này. Mặc dầu vậy, mỗi sáng Chúa Nhật vẫn phải mặc áo “sầu mộng” đi qua xứ đạo khác dự thánh lễ theo lệnh của mẹ.

Làm cái gì thì làm đừng để mất đức tin, phúc cho người không xem thấy mà tin.

Mẹ tôi quả thật có phúc vì còn có Chúa để bám víu giữa biển đời ngặt nghèo, mẹ lúc nào cũng tìm cách bồi đắp niềm tin cho con.

Cái áo lại hơi rộng, mặc vào trông quê phải biết, nhưng cũng phải mặcđi lễ bởi chuyện may mặc trong gia đình bây giờ là chuyện xa xỉ, vượt ngoài tầm với ngân sách co cụm giật gấu vá vai của mẹ.

Switch mode views: