Tài liệu cũ của Saigon Echo
từ 2008 - 2012
Play
Giám Đốc: Tiến Sĩ Trần An Bài

               Suy Tư Dòng Đời:

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

BIẾT NGHE NHẠC

Thời tiết tháng Năm và tháng Sáu ở Canada thật tuyệt vời, vừa hết lạnh là nhẹ nhàng bước vào nắng ấm 

Mùa Xuân Dân Chủ

Sống ở Canada gần 40 năm mà chưa bao giờ tôi thấy giới truyền thông Canada nói tới lịch sử Canada nhiều như tháng này.

Lá Thư Canada: VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG

Canada đã vào xuân, một mùa xuân đến sớm. Dân chúng biết trước việc này, không phải do Nha Khí Tượng nhưng do Chú Wiarton Willie báo tin

CHUYỆN TÌNH YÊU

Canada đang giữa mùa đông, cũng lạnh giá như mọi năm nhưng không nhiều gió và nhiều tuyết như các năm trước.

VẪN CÒN CHUYỆN TẾT

Tết con Rồng qua đã lâu thế mà làng tôi vẫn còn mê nói về rồng.

Lá thư Canada: CỜ 6 SAO

Tiền vô như nước sông Đà - Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin - Tình vào đầy tim - Chăn ấm nệm êm - Sung sướng ban đêm - Hạnh phúc ban ngày

Ăn tết Con Rồng

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy - Ta có thêm ngày nữa để yêu thương

Nhà văn và Nhà xí

Vì mới đây, Thượng Tướng công an Nguyễn Văn Hưởng đã cả quyết Việt Nam hay Á châu nói chung không giống với Tây phương, khiến người viết đã không tìm câu trả lời từ phương Tây, mà tìm ngay từ láng giềng của Việt Nam.

TỪ CHẾT ĐẾN BỊ THƯƠNG

“Cặp vợ chồng lý tưởng”, đó là tựa đề của một chương trình truyền hình thật hấp dẫn và ăn khách. Năm cặp vợ chồng bước vào phòng thu hình.

Thói Vũ Phu

Trong khi phần lớn những anh đều chồng sợ vợ, thì cũng có không ít những anh chồng thuộc vào loại hảo hớn, lúc nào cũng sẵn sàng nổi máu “yêng hùng” đối với chị vợ.

Công lao của vợ

Kính vợ đắc thọ,  Sợ vợ sống lâu, Nể vợ ta hết u sầu, Để vợ lên đầu, Thì trường sinh bất lão.

Chửi

Cách đây không lâu, một anh bạn từ bên Mỹ, chẳng biết sưu tầm được ở đâu, đã gửi cho gã một mẩu chuyện, đọc xong gã chẳng biết nên cười hay nên khóc.

CHỒNG ƠI LÀ CHỒNG.......toàn là "vô..."

Chồng ngu đần là Vô phúc
 Chồng thông minh thì Vô sự

Bữa ăn trong gia đình

Ngôn ngữ Việt Nam ta thật phong phú để diễn tả hành động ăn.

Phở và cơm thời H1N1.

 Việt Nam và thế giới đã trải qua dịch cúm gà H5N1 và đang phải đối phó với dịch cúm lợn H1N1.

Cũng là đờn ông

Thế thì bà cũng như ông, đều cần đến nhau, đều phải tựa vào nhau, để cùng xây dựng một cuộc đời chung.

Viết Về Một Người Cha

Đường đường là một vị Giám mục tiên khởi của một giáo phận, thế mà cuộc sống của ngài vẫn luôn đơn sơ và đạm bạc, nếu không muốn nói là khắc khổ.

Chuyện Bình Thường

Chỉ có bọn nầy, vì sống quen trong cái " môi trường  bình thường " đó, là có thể đã trở thành … bất bình thường thôi !

       Tôi có một ông bạn hiện ở Sài Gòn, vùng Tân Định. Chúng tôi thường liên lạc với nhau bằng email, dĩ nhiên là những trao đổi đã được " cân nhắc " kỹ để tránh " đụng chạm phiền phức ".
      
Gần đây, tôi gởi ông ta tấm hình nầy, lượm trên internet :

Và hỏi ổng nghĩ sao ? Ổng trả lời :
 
      - Ồ ! …Khoá xe vào chân để yên tâm ngủ trưa cho … ngon lành là chuyện bình thường ở xứ nầy, đâu có gì lạ ! Bồ coi, như tôi bây giờ, trên xe đạp lúc nào cũng có ba ( 3 ) cái khoá : một cái để khoá bánh trước vô sườn xe, một cái để khoá bánh sau vô sườn xe, còn cái thứ ba là để khoá sườn xe vô cột điện. Vậy là an toàn ! Không làm vậy, nghĩa là chỉ khoá một bánh xe vô cột điện là chúng nó tháo lấy bánh xe còn lại, có khi lấy luôn cái sườn xe nữa ! Chuyện bình thường mà bồ ! Có gan, bồ về đây chơi sẽ thấy toàn là chuyện bình thường hết !

       Ở cuối email, ổng viết một câu làm tôi thật xúc động :

        - Chỉ có bọn nầy, vì sống quen trong cái " môi trường  bình thường " đó, là có thể đã trở thành … bất bình thường thôi ! Mình biến thành " bất bình thường " mà mình không biết ! Đó, cũng là " chuyện bình thường " , bồ à !

        Đọc đến đó, tôi nghe thương ông bạn của tôi vô cùng : ổng đã nén cái đau của ổng để khỏi  thốt ra một lời than cho thân phận !

        Thời gian sau, ổng gởi tôi một tấm hình trong email ổng viết :

        - Tấm hình nầy chụp ở Ấn Độ . Người chủ xe đạp cởi đôi dép da để vào chùa lạy Phật , sợ mất dép nên … khoá đôi dép vào bánh xe đạp ! Đó là chuyện bình thường ở Ấn Độ. Nếu là ở xứ mình, làm như vậy là " bất bình thường ", bởi vì chuyện bình thường ở đây là khi thằng cha đó lạy Phật xong bước ra sẽ không còn thấy xe đạp và đôi dép da nữa !

         Rồi ổng kết : " Bồ thấy không ? Chuyện bình thường ở mỗi xứ mỗi khác ! Ở xứ mình cái khác đó rất … độc đáo cho nên nhiều khách du lịch, sau khi biết Việt Nam, đã nói Việt Nam không giống ai hết !

          Đây là hình ổng gởi :


                                                                      * * * 
       Ông bạn tôi " khơi " chuyện bình thường làm tôi nhớ lại những hính ảnh lâu nay tôi thấy trên internet mà vẫn tự hỏi : " Sao có thể như vậy được ? ". Thì ra ở quê hương tôi " Nó đã như vậy được " nên mới gọi là " Chuyện bình thường " !

       Đây : hãy coi Sài Gòn cứ sau cơn mưa " hơi lớn hơi lâu " là ngập lụt . Mà loại " mưa hơi lớn hơi lâu " tới mùa là … có mặt " liền tù tỳ ", nghĩa là thành phố cứ nay ngập mai lụt dài dài . Vậy mà chẳng thấy dân chúng đi biểu tình đòi hỏi chánh quyền phải " khai thông " cống rãnh ! Rối thì cứ tự nhiên lội nước đi sanh hoạt, đem lưới ra lưới cá giữa lòng đường  y như ngoài sông rạch, còn trên đầu vẫn có biểu ngữ " Có nước sạch là có sức khoẻ ", đám cưới  vẫn rước dâu bằng xe ba bánh, có ướt chút chút cũng không sao – ngày lành tháng tốt mà ! - Riết rồi trở thành " Chuyện bình thường ", chẳng có gì phải bận tâm hết !

        Không biết chừng nào người dân xứ tôi làm một chuyện … động Trời - gọi là " Chuyện Bất Bình Thường " – nghĩa là cùng đứng lên đòi hỏi nhà cầm quyền phải làm thế nầy, phải làm thế nọ … để cuộc sống của người dân được " nâng cấp " như ở các nước … bình thường khác ?

         Hỏi , tức là … không trả lời ! Than ôi ! …

         Đây : vài hình ảnh " Chuyện Bình Thường " lượm trên internt :

Chuyện Phiếm về MÈO

Từ Mèo Đặng Tiểu Bình đến Mèo Nhà Ta.

- Hello!

- Xin lỗi, ai ở đầu dây đấy ạ?

- Thưa Cụ Đốc, con là Ba Rọi, chủ báo "Mèo Chuột" đây.

- Ô, xin chào ngài chủ báo.  Thưa, chẳng hay ngài chủ báo có điều chi muốn dạy bảo lão đây?

- Dạ, không dám, Cụ Đốc. Cụ là thẩm phán. Năm nay năm con Mèo. Xin cụ "phán" cho một "án lệnh" để loan truyền trên báo nhà.

- Ô hay, ngài có lộn không nhỉ! Ở xứ Mỹ này, thẩm phán lười như hủi, có viết án bao giờ đâu. Luật sư toàn viết sẵn án cho thẩm phán ký đấy chứ?

- Cụ Đốc ơi, báo mình người viết cũng mùi nước mắm, người đọc cũng mùi mắm tôm, nên cụ phải theo luật An Nam chứ! Theo luật nhà mình: Luật sư nói. Thẩm phán viết. Thẩm phán đập búa lên bàn. Còn luật sư gõ vào hầu bao thân chủ.

- Xem ra ngài cũng am tường luật pháp dữ ha? Thế ngài muốn lão viết về cái gì đây?

- Tùy cụ Đốc. Viết gì cũng được, miễn là phải có chút mèo mỡ gì đó, cho nó thích hợp với năm Tân Mão.

***
 
Con Mèo của Đặng Tiểu Bình

Đốc Gàn lấy chiếc ống nhổ, nhả miếng bã trầu đỏ lòm vào. Rồi chậm rãi rít một hơi thuốc lào. Khói bay mù mịt căn phòng. Lão trải mảnh giấy bồi, vàng khè lên chiếc sập gụ và lấy bút lông chấm mực viết.
Từ ngày mất nước đến nay, mỗi độ Xuân về là Đốc nhớ đến Pháp Đình Saigon không thể tả được. Pháp Đình nằm trên đường Công Lý, sơn màu vàng, các cửa màu xanh biển và những đường viền màu trắng. Mỗi buổi sáng, dân chúng tấp nập vào Pháp Đình cầu viện công lý. Các luật sư tay xách cặp Samsonite và xúng xính trong bộ áo  đen cổ trắng đi qua đi lại nhộn nhịp hành lang toà án... Nhớ ơi là nhớ! Thương chết đi được!

Đốc giơ bàn tay lên bấm số tử vi. Miệng lẩm bẩm, mắt mơ màng:

- Năm Quý Mão, 1963, Hoa Kỳ chủ động cuộc lật đổ hai anh em TT. Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Dương Văn Minh cầm đầu nhóm tướng lãnh đảo chánh. Đúng một giáp sau, năm Ất Mão, 1975, Hoa Kỳ rút quân, cũng lại Dương Văn Minh ló đầu trên chính trường vào giờ thứ 25 và ra lệnh đầu hàng quân xâm lăng Bắc Việt. Thế là chế độ VNCH bị khai tử. Cộng Sản Bắc Việt nhuộm đỏ toàn thể Việt Nam. Pháp Đình Saigon từ đó trở thành công cụ cho một chế độ Luật Rừng.

Bỗng Đốc thở dài, tay chân run rẩy, hai dòng lệ chảy dài trên chiếc má hóp bọc da đồi mồi:

- Dòng dã 3 chu kỳ qua đi, Cộng Sản Đông Âu chết đã xanh cỏ, mà sao Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vẫn còn quậy cựa, dâng đất dâng biển cho quan thày Trung Cộng, vẫn còn hành hạ các nhà yêu nước đòi tự do, đa nguyên, đa đảng cho dân, vẫn còn thẳng tay đàn áp các tôn giáo, ức chế giáo dân? Lạ thật?
Cộng Sản đã cai trị thế giới bằng sắt máu và đã giết hại cả 100 triệu người trên thế giới, trong đó, có 65 triệu nạn nhân chết ở Trung Hoa lục địa. Riêng tại Việt Nam gần 2 triệu đồng bào đã chết do chính sách cai trị dã man của Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Nói đến Mèo, người ta nhớ ngay đến câu nói để đời của Đặng Tiểu Bình: "Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột". Câu nói này cùng với sự phục hồi uy tín và quyền hành của Đặng Tiểu Bình đã trở nên một chủ thuyết nhằm cải tiến đời sống xã hội, kinh tế và ngoại giao của Trung Cộng. Thực vậy, với nguyên tắc "Mèo trắng mèo đen", Trung Cộng đã khai tử mọi chính sách và đường lối nặng về "hệ tư tưởng" (ideology), để cổ võ cho đường lối "thực dụng" (pragmatism). Khi đưa ra nguyên tắc này, họ Đặng muốn bắt tay cả với "Tư Bản Đế Quốc Mỹ", miễn sao có lợi cho Trung Quốc là được. Không thể phủ nhận rằng triết lý của họ Đặng có giá trị thực dụng, nhưng rất nguy hiểm xét về khía cạnh đạo đức, vì nó vi phạm nguyên tắc phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh. Và nếu lão dạy cho giống mèo bỏ thói quen bắt chuột thì lập luận của họ Đặng trở nên hụt hẫng, vì Mèo không còn bắt chuột nữa. Mèo trở nên vô dụng đối với họ Đặng.

Dù sao, nguyên tắc "Mèo trắng mèo đen" của Đặng Tiểu Bình đã tạo sinh khí cho Trung Cộng, biến nước này thành một con Cọp hùng mạnh, có thể ăn tươi nuốt sống các nước nhỏ miền Thái Bình Dương. Cộng Sản VN lúc nào cũng theo gót đàn anh Trung Cộng. Khi họ Mao chê họ Đặng thì VN cũng chê nguyên tắc Mèo, nhưng đến khi họ Đặng được phục chức thì VN lại khen rối khen rít triết lý Mèo. Cho đến tháng 12 năm 1978, khi họ Đặng nổi nóng tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ. Phải dạy cho VN một bài học" và rồi ông xua quân đánh VN. Lúc đó VN mới sáng mắt ra. Bọn Tàu khốn nạn thực!

Mèo Và Cọp

Tới đây thì tên đệ tử của Đốc Gàn bước vào. Hắn thấy thày mình đang cúi khòm xuống vẽ mèo vẽ chuột, nên góp ý:

- Bẩm cụ Đốc, con vợ của con càng ngày càng dữ như Cọp. Chắc con phải đi kiếm một con Mèo mướp để thay thế con Cọp nhà con.

Đốc Gàn trợn trừng mắt:

- A, thằng này, mày ngon thật hả con?

- Dạ, sức chịu đựng của con người có hạn mà cụ Đốc.

- Bay vừa nói bay đi tìm một con Mèo, tức là con bồ nhí đấy, phải không? Thế bay có biết tại sao người ta lại gọi tình nhân của những đàn ông đã có vợ là "Mèo" không?

- Dạ, không! Thấy người ta nói sao, con bắt chước vậy.

Đốc giải thích:

- Con mèo nó thích được người vuốt ve và chính nó cũng thích mơn trớn, lăn vào lòng chủ, uốn qua uốn lại, nhõng nhẹo rất tình tứ. Mèo lại còn có tính e thẹn, xấu hổ. Làm gì cũng muốn kín đáo, lén lút. Thậm chí cả cái chuyện đi tiêu xong cũng phải bới đất che đi. Mèo còn dị ứng với màu trắng, màu trong sạch. Những chỗ nào mèo hay đến phóng uế thì thuốc gì rảy vào mèo cũng không sợ, chỉ có cách đổ nước vào một chiếc bình plastic màu trắng để vào chỗ đó là mèo không đến ị bậy nữa. Phong cách những cô nhân tình lén lút với những chàng trai có vợ y hệt như dáng dấp của con Mèo. Từ đó mới có cảnh các bà vợ chổng mông lên trời mà than rằng: "Trời ơi! Chồng tôi có Mèo rồi!"

- Dạ, bây giờ thì con đã hiểu!

- Thế bay có biết Mèo và Cọp khác nhau ở chỗ nào không?

Tên đệ tử xoa hai bàn tay với nhau, cười khoái chí:

- Dạ, biết, biết. Cái này là nghề của con mà!

Cọp luôn luôn gắt gỏng, cằn nhằn, gầm gừ, nhưng Mèo thì dịu dàng, âu yếm, nựng chiều.

Cọp thường muốn mình là Chúa Sơn Lâm. Còn Mèo thì vâng lời, nhu mì, coi người tình là chủ đời mình.

Cọp thì đầu bù tóc rối. Mèo lúc nào cũng miệt mà, óng ả, thơm như múi mít.

Cọp luôn mở ví, xiết tiền lương của chồng. Còn Mèo thì chẳng cần chi, cho bao nhiêu lấy bấy nhiêu, không cho cũng chẳng sao, vì đời em có anh là có tất cả. Tình chưa!

Tên đệ tử như được gãi đúng chỗ ngứa. Nói xùi bọt mép. Nói thao thao bất tận:

- Cụ Đốc ơi, Năm nay nhất định con sẽ ly dị con Cọp cái nhà con, để lấy con Mèo Mới. Tân Mão mà lị!

Đốc Gàn nghiêm nét mặt, cầm chiếc xe điếu chỉ vào mặt tên đệ tử:

- Lão nói cho bay biết: Mỗi lần ly dị là một lần cháy nhà đó nghe con. Ngày xưa ở Việt Nam, tòa lão xử ly hôn, nên lão rành mấy câu Vọng Cổ này lắm. Xứ Mỹ này đàn bà là "năm bơ oăn", nên số phận mấy ông chồng ly dị còn đen như mõm chó ấy. Đừng tưởng ly dị là ngon đâu! Sạt nghiệp đấy con ạ. Từ Mèo biến thành Cọp không xa đâu con ơi, vì chúng cùng một dòng họ mà! Mèo hay Cọp, miễn sao cho mày ôm là tốt rồi. Đêm khuya, tắt lửa tối đèn, nhà tranh cũng như nhà ngói. Ôm Cọp hay ôm Mèo cũng giống nhau cả. Bay đừng quên rằng Mèo nó cũng có móng sắc, có thể cào nát mặt mày. Xong nó trèo tuốt lên ngọn cây cau cười tình. Làm sao mày bắt được nó? Có những ông chồng chán vợ, tưởng rằng đổi vợ là xong. Đó không phải là giải pháp hay. Bao lâu chính mình không thay đổi, lại đi đổi vợ thì cũng như tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa. Đàn bà, ai cũng vậy, bay ơi! Vì vậy, cái hay của đàn ông là làm sao biến con Cọp trong nhà thành con Cọp giấy. Thế là xong!

Đói (3)

Trong năm 1945, lợi dụng tình trạng các đảng phái chính trị tranh nhau nổi lên hoạt động cứu nước, các đảng cướp cũng mọc lên như nấm để kiếm ăn.

 Nạn đói năm Ất Dậu 1945 (vientay.com)

Lúc đầu chỉ là những vụ ăn trộm, đào ngạch, khoét vách vào ban đêm để lục lọi thức ăn dưới bếp. Về sau, nảy sinh ra các đảng cướp, có vũ khí, mã tấu, giáo mác. Chúng ăn cướp có kế hoạch như đi hành quân, hết làng này đến làng khác. Đi tới đâu chúng cũng tìm nhà giầu cướp của, hãm hiếp phụ nữ một cách công khai.

Người ta tự hỏi lúc đó ai đang cai trị mảnh đất Việt Nam? Trên nguyên tắc, thực dân Pháp vẫn còn đang đô hộ Việt Nam trong giai đoạn này. Nhưng khi Pháp đầu hàng Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), thì Nhật (cùng phe Trục với Đức) đã đặt ra nhiều yêu sách đối với Pháp tại Đông Dương. Chẳng hạn Thỏa Hiệp Pháp-Nhật ký ngày 19-8-1942, Pháp phải xuất cảng sang Nhật một triệu tấn gạo lấy từ các mùa gặt năm 1942-1943 tại Việt Nam. Đến ngày 9-3-1945, Nhật mới chính thức đảo chính Pháp và nắm quyền tại Việt Nam. Nhưng lúc đó, Nhật đang lo ngại có thể bị thua trận, nên bề ngoài vẫn phải tuyên bố "long trọng trao trả độc lập cho Việt Nam" để làm giảm sự chống đối của các phong trào đuổi Nhật đang rầm rộ khởi phát. Ngày 17-4-1945 Hoàng Đế Bảo Đại trao quyền cho ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ, nhưng thực chất, Bảo Đại cũng không có quyền hành gì, ngoại trừ việc quản lý nội bộ.

Làng Nam Ninh có một tướng cướp tên là Mãnh Hổ, rất hung dữ, ai cũng phải sợ. Cha xứ được mật báo tên này đang hoành hành ở làng dưới và không bao lâu sẽ đến xóm đạo của cha. Cha liền họp bàn với Đoàn An Ninh để triệt hạ tên này. Đương đầu trực diện thì không được, vì bọn cướp đông người, lại có võ nghệ. Vì thế, kế hoạch được dựng lên là các thanh niên trai tráng sẽ nấp trong nhà dân dọc theo hai bên đường. Dưới đất, nhiều dây thừng căng ngang qua đường được vùi sơ bằng một lớp cát.

Khi Mãnh Hổ và đoàn cướp đi qua ổ phục kích, các dây thừng nhất loạt được giựt lên, ngăn chúng lại. Phía trên mái nhà các mảnh lưới đan bằng dây thừng tung xuống. Thế là cả đoàn bị vướng dây rợ tứ tung, gỡ không ra. Cùng lúc, gạch đá từ hai bên đường tới tấp ném qua và từ mái nhà trút xuống. Toàn bộ băng đảng bị thương, máu me lênh láng, còn phe xóm đạo thì bình yên vô sự. Tướng cướp Mãnh Hổ và toàn bọn bị bắt sống. Cha xứ nạp chúng cho nhà nước trừng trị. Kể từ đó không có đám cướp nào dám bén mảng đến xứ đạo Mông Triệu nữa.

Thực sự thì dân chúng trong làng Nam Ninh ít người bị đói, vì tuy ruộng đất bị quân phiệt Nhật trưng thu trồng đay, nhưng vườn tược chung quanh mỗi nhà khá nhiều, nên họ giồng khoai, giồng sắn hay chuối và các cây thực dụng khác, nhờ vậy, cũng đủ tạm sống qua ngày. Nhà nào lỡ bị túng thiếu chút ít thì bà con lối xóm giúp đỡ chia xẻ cơm áo cho.

Sau gần 2 năm hoành hành, nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu dần dần tan biến nhờ 3 lý do chính:

Thứ nhất, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh ngày 15-8-1945, nên Việt Nam không còn phải xuất cảng một số lượng gạo kếch sù sang Nhật nữa.

Thứ nhì, Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, phi cơ Đồng Minh không còn bắn phá các trục lộ giao thông nữa, nên sự tiếp tế lúa gạo từ miền Nam ra Bắc được dễ dàng.

Thứ ba, dân số tại Bắc Việt đã giảm sút rõ rệt, vì một số khá đông di cư vào Nam lập nghiệp. Còn những người đã thoát chết trong nạn đói không cần di chuyển đi đâu cả. Họ được tiếp tế và bắt tay vào cuộc sống mới.

Sức tàn phá của nạn đói được giảm đi phần nào cũng là nhờ sự hy sinh của tín đồ các tôn giáo. Với tinh thần bác ái của Công giáo hoặc đức từ bi hỉ xả của Phật giáo, các đạo hữu rất hăng say trong công tác cứu đói và làm việc có tổ chức dưới sự lãnh đạo của các tu sĩ. Họ đạo Mông Triệu với cha xứ Giuse Kiên là một trường hợp điển hình của hàng ngàn các xứ đạo khác.

Vào một buổi trưa hè nóng bức, cha xứ Kiên đang ăn cơm thì có tiếng gõ cửa sau nhà. Cha hơi ngạc nhiên vì những người xin ăn không ai vào được cửa phía này, còn giáo dân thì ai cũng biết giờ này cha ăn cơm và ngủ trưa. Họ không  dám phiền cha, trừ trường hợp khẩn cấp lắm. Khi cha ra mở cửa thì thấy một người con gái, mặt mũi hom hem, đội chiếc nón lá rách tả tơi, chứng tỏ đây là một nạn nhân của nạn đói.

- Thưa cha, cha không nhận ra con à?

Cha Kiên lắc đầu nhẹ, hơi nhăn trán lại cố gợi trí nhớ xem là ai. Người con gái tiếp:

- Con là Tình, hội Con Đức Mẹ đây, cha!

Tình là một cô gái trong họ, cha mẹ mất sớm, ở với bà thím. Tính nết hơi lẳng lơ. Cô bỏ làng đi biệt tích cả mấy năm nay. Có người nói đã bắt gặp cô làm "me Tây" ở tỉnh. Cha Kiên cũng được người ta báo tin cho biết như vậy. Hôm nay, bỗng dưng cô trở về thăm cha. Tuy ngạc nhiên, nhưng cha vẫn niềm nở:

- À, Tình, cha nhớ rồi. Kỳ này trông con gầy đi nhiều!

Cô nàng mừng rỡ quá, vì được cha nhận ra. Cô bỏ chiếc nón khỏi đầu và nhìn cha với giọng cầu khẩn:

- Cha có gì ăn không? Cho con ăn với. Con đang đói quá!

Cha Kiên không trả lời ngay. Cha nghĩ rằng biết đâu nhờ cái đói này mà cha có thể đưa nàng trở về cuộc sống ăn ngay ở lành. Cha muốn cứu linh hồn cô trước khi cứu thể xác. Cha nhìn thẳng vào mắt cô:

- Con đã bỏ nhà thờ mấy năm nay. Con hãy sốt sắng giọn mình xưng tội ngay bây giờ, rồi cha cho ăn cơm.

Tự nhiên Tình xìu nét mặt lại, đứng lặng người ngẫm nghĩ hồi lâu. Có lẽ cuộc đời trụy lạc của cô trong suốt mấy năm qua đang hiện ra rõ nét. Cô xấu hổ, không dám xưng tội với cha. Cô ngập ngừng:

- Thôi, thưa cha, vậy thì thôi vậy. Chào cha con đi!

Vừa nói, cô vừa nhặt chiếc nón và chạy đi luôn trước sự ngạc nhiên của cha.

Cha Kiên thở dài, trở lại bàn cơm. Cha vừa lo vừa thương hại cô. Nhưng cha lại nghĩ rằng trước sau gì thì con Tình cũng gặp bạn bè trong Đoàn Cứu Đói cuối nhà thờ. Nó chẳng dám đi xa nữa đâu. Có gì mà phải bận tâm. Vì thế, sau bữa cơm, cha bình thản đi ngủ trưa.

Theo thói quen, sau giờ nghỉ trưa, cha ra nhà thờ đọc kinh Nhật tụng. Vừa quỳ xuống làm dấu thì ông Từ khúm núm đến ghé sát vào tai cha:
- Bẩm lạy cha, con Tình nó nằm chết ở cổng sau nhà xứ mình rồi!

Cha xứ hoảng hốt buột miệng:

- Lạy Chúa!

Nhưng cha lấy lại bình tĩnh ngay và bảo ông Từ:

- Được rồi!

Ông Từ hiểu ý là cha đã được bá cáo. Nhiệm vụ ông đến đây là hết. Ông lặng lẽ lui ra.

Cha Kiên không mở sách kinh ra đọc. Cha quỳ, lấy hai tay úp vào mặt suy nghĩ: Linh hồn và thể xác, cái nào phải ưu tiên cứu cấp? Hồn là quý, xác là hèn. Nhưng không cứu xác trước thì làm sao cứu được hồn?

Cha nhớ đến phép lạ Chúa hóa năm chiếc bánh và hai con cá cho cả hàng ngàn người ăn.   Khi ấy, dân chúng đi theo Chúa đông quá sức. Họ say mê nghe Lời Chúa. Lời Chúa là Lời Hằng Sống. Lời Chúa có sức cải tử hoàn sinh và Lời Chúa đưa con người đến sự sống muôn đời. Nhưng nghe Lời Chúa lâu quá, dân bắt đầu cảm thấy đói, thấy khát. Các tông đồ xin Chúa đuổi dân về đi. Người đông thế này, lấy gì cho họ ăn, lấy gì cho họ uống? Giải pháp của các tông đồ rất đúng và rất thực tế. Nhưng Chúa lại không nghĩ như vậy. Lời Chúa là lời hằng sống để giải quyết cái đói về tâm linh của con người. Nhưng không thể lấy Lời Chúa mà nuôi thể xác con người được. Có thực mới vực được đạo! Phải cho họ ăn uống no nê. Bao tử có đầy thì mới có sức mà theo đạo và giữ đạo. Chúa muốn cho họ ăn uống để tiếp tục nghe Chúa giảng đạo. Vì đuổi dân đi, lấy ai theo đạo? Và vì thế, Chúa đã làm phép lạ với chỉ 5 chiếc bánh và 2 con cá mà 5.000 ngàn đàn ông - chưa kể đàn bà con nít - được ăn thỏa thuê, lại còn dư cả thùng, cả thùng.

Cha Kiên tự hỏi mình: Hay là chính cha có lỗi đã bỏ Tình chết đói? Cha không cần và cũng không thể làm phép lạ như Chúa, vì cha đang dư thức ăn để cho đi. Chưa hết đâu! Cha để cho cô chết trong tình huống tội lỗi này, có thể cô chết mất linh hồn lắm chứ? Phải chăng cha đã giết cả linh hồn lẫn thế xác của Tình? Cha bắt đầu lo lắng. Không biết Tình còn nhớ bài học giáo lý cha đã dạy mà ăn năn tội cách trọn trước khi chết không? Con người chỉ cần một giây, một phút nhớ đến Chúa và hối hận vì đã phạm tội mất lòng Chúa trong giờ sau hết là đủ để Thiên Chúa lòng lành tha thứ hết mọi tội lỗi.

Cha không muốn nghĩ tiếp nữa. Cha xin phó dâng tất cả trong tay Chúa. Tuy nghĩ vậy, nhưng lương tâm cha vẫn còn áy náy. Bất chợt, qua cửa sổ trước mặt, cha nhìn thấy anh Phạm văn Độc, Trưởng Đoàn Tobia, con ông bà Giáo Hiệt vừa đi ngang qua. Cha chạy vội ra, gọi anh lại gần:

- Anh Độc, anh còn nhớ cô Tình, hội Con Đức Mẹ trước đây không?

- Dạ, con nhớ chứ cha. Cô vừa chết ở cổng sau nhà xứ, chúng con đã bỏ xác lên xe bò, sắp sửa đem đi chôn.

Cha nói thật chậm, sợ anh Độc nghe không rõ lệnh của cha:

- Tôi muốn làm phép xác cô ta trong thánh lễ chiều nay tại nhà thờ. Anh báo với ông Trùm cho tôi như vậy nhá!

Vâng lệnh cha xứ, anh giữ xác cô Tình lại để làm phép trước khi chôn. Khổ nỗi, xác cô lại nằm dưới cùng trong chiếc xe ba gác. Thế là anh em trong Đoàn lại phải khênh từng xác chết xuống, mới lấy được xác cô Tình ra.

Trong Thánh lễ chiều hôm đó, xác cô Tình được bó trong một chiếc chiếu do họ đạo cung cấp. Cha làm lễ cầu hồn và rảy nước Thánh lên xác của cô trước khi đem đi chôn. Mọi người đọc kinh Vực Sâu cầu cho linh hồn Maria.

Sau lễ, bên ngoài tiền đường nhà thờ, các bà xúm nhau lại, xì xầm bàn tán um cả lên:

- Gớm, cái con đĩ này mà cha còn làm lễ, làm lạy gì cho nó. "Me Tây" thì chỉ có sa hỏa ngục!

- Cái con này nó lẳng lơ lắm cơ đấy. Cha cụ cũng phải giữ mình, không thì cũng chết với nó!

Biết rằng các bà đã bàn luận lạc đề khá xa, nên có tiếng đàn ông xen vào:

- Thôi đi các bà ơi! Cho tôi can. Đừng có xét đoán người ta. Lo thân mình đi. Đàn bà ai mà chẳng lẳng lơ. Tội hay không thì chỉ có Chúa biết.

Thằng Kích có tiếng là hay trêu chọc các bà cũng xông vào ăn có:

- Thôi đi các mệ! Các mệ có biết chuyện Diêm Vương không? Để tôi kể các mệ nghe: Ngày kia Diêm Vương bắt được hai phụ nữ: Người thứ nhất là gái giang hồ. Người thứ hai là hội viên Hội Con Đức Mẹ. Diêm Vương hỏi cô gái giang hồ:

- Chị kia, chị làm gì ở trần gian?

- Dạ, con mua vui cho thiên hạ. Ai buồn bực, đến gặp con là ra về vui vẻ như Tết.

Diêm Vương cười hả hê:

- Thế thì tốt. Cho trở về trần gian làm người tiếp. Chúc vui vẻ!

Diêm Vương quay sang hội viên Hội Các Bà Mẹ:

- Còn chị kia, chị làm gì?

- Dạ, con thờ chồng nuôi con. Hằng ngày chịu khó đọc kinh xem lễ. Con vào Hội Các Bà Mẹ để kể cho nhau mọi thứ chuyện trong xứ đạo. Hội chúng con nhiều chuyện vui lắm!

Diêm Vương vội vàng ngắt lời:

- Bắt! Bắt ngay lấy con mụ lắm chuyện này. Âm phủ đầy dẫy những mụ lắm chuyện như con mụ này!

Thằng Kích phá lên cười, dòn như nắc nẻ. Các bà thì vừa bực vừa buồn cười về câu chuyện tếu nó vừa kể, nhưng vẫn la lối xỉa xói:

- Bắt! Bắt cái đầu mày. Bà đánh cho chết bây giờ, cái thằng khỉ gió này!

Switch mode views: