Tài liệu cũ của Saigon Echo
từ 2008 - 2012
Play
Giám Đốc: Tiến Sĩ Trần An Bài

               Suy Tư Dòng Đời:

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Ăn tết Con Rồng

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy - Ta có thêm ngày nữa để yêu thương

Nhà văn và Nhà xí

Vì mới đây, Thượng Tướng công an Nguyễn Văn Hưởng đã cả quyết Việt Nam hay Á châu nói chung không giống với Tây phương, khiến người viết đã không tìm câu trả lời từ phương Tây, mà tìm ngay từ láng giềng của Việt Nam.

TỪ CHẾT ĐẾN BỊ THƯƠNG

“Cặp vợ chồng lý tưởng”, đó là tựa đề của một chương trình truyền hình thật hấp dẫn và ăn khách. Năm cặp vợ chồng bước vào phòng thu hình.

Thói Vũ Phu

Trong khi phần lớn những anh đều chồng sợ vợ, thì cũng có không ít những anh chồng thuộc vào loại hảo hớn, lúc nào cũng sẵn sàng nổi máu “yêng hùng” đối với chị vợ.

Công lao của vợ

Kính vợ đắc thọ,  Sợ vợ sống lâu, Nể vợ ta hết u sầu, Để vợ lên đầu, Thì trường sinh bất lão.

Chửi

Cách đây không lâu, một anh bạn từ bên Mỹ, chẳng biết sưu tầm được ở đâu, đã gửi cho gã một mẩu chuyện, đọc xong gã chẳng biết nên cười hay nên khóc.

CHỒNG ƠI LÀ CHỒNG.......toàn là "vô..."

Chồng ngu đần là Vô phúc
 Chồng thông minh thì Vô sự

Bữa ăn trong gia đình

Ngôn ngữ Việt Nam ta thật phong phú để diễn tả hành động ăn.

Phở và cơm thời H1N1.

 Việt Nam và thế giới đã trải qua dịch cúm gà H5N1 và đang phải đối phó với dịch cúm lợn H1N1.

Cũng là đờn ông

Thế thì bà cũng như ông, đều cần đến nhau, đều phải tựa vào nhau, để cùng xây dựng một cuộc đời chung.

Viết Về Một Người Cha

Đường đường là một vị Giám mục tiên khởi của một giáo phận, thế mà cuộc sống của ngài vẫn luôn đơn sơ và đạm bạc, nếu không muốn nói là khắc khổ.

Chuyện Bình Thường

Chỉ có bọn nầy, vì sống quen trong cái " môi trường  bình thường " đó, là có thể đã trở thành … bất bình thường thôi !

       Tôi có một ông bạn hiện ở Sài Gòn, vùng Tân Định. Chúng tôi thường liên lạc với nhau bằng email, dĩ nhiên là những trao đổi đã được " cân nhắc " kỹ để tránh " đụng chạm phiền phức ".
      
Gần đây, tôi gởi ông ta tấm hình nầy, lượm trên internet :

Và hỏi ổng nghĩ sao ? Ổng trả lời :
 
      - Ồ ! …Khoá xe vào chân để yên tâm ngủ trưa cho … ngon lành là chuyện bình thường ở xứ nầy, đâu có gì lạ ! Bồ coi, như tôi bây giờ, trên xe đạp lúc nào cũng có ba ( 3 ) cái khoá : một cái để khoá bánh trước vô sườn xe, một cái để khoá bánh sau vô sườn xe, còn cái thứ ba là để khoá sườn xe vô cột điện. Vậy là an toàn ! Không làm vậy, nghĩa là chỉ khoá một bánh xe vô cột điện là chúng nó tháo lấy bánh xe còn lại, có khi lấy luôn cái sườn xe nữa ! Chuyện bình thường mà bồ ! Có gan, bồ về đây chơi sẽ thấy toàn là chuyện bình thường hết !

       Ở cuối email, ổng viết một câu làm tôi thật xúc động :

        - Chỉ có bọn nầy, vì sống quen trong cái " môi trường  bình thường " đó, là có thể đã trở thành … bất bình thường thôi ! Mình biến thành " bất bình thường " mà mình không biết ! Đó, cũng là " chuyện bình thường " , bồ à !

        Đọc đến đó, tôi nghe thương ông bạn của tôi vô cùng : ổng đã nén cái đau của ổng để khỏi  thốt ra một lời than cho thân phận !

        Thời gian sau, ổng gởi tôi một tấm hình trong email ổng viết :

        - Tấm hình nầy chụp ở Ấn Độ . Người chủ xe đạp cởi đôi dép da để vào chùa lạy Phật , sợ mất dép nên … khoá đôi dép vào bánh xe đạp ! Đó là chuyện bình thường ở Ấn Độ. Nếu là ở xứ mình, làm như vậy là " bất bình thường ", bởi vì chuyện bình thường ở đây là khi thằng cha đó lạy Phật xong bước ra sẽ không còn thấy xe đạp và đôi dép da nữa !

         Rồi ổng kết : " Bồ thấy không ? Chuyện bình thường ở mỗi xứ mỗi khác ! Ở xứ mình cái khác đó rất … độc đáo cho nên nhiều khách du lịch, sau khi biết Việt Nam, đã nói Việt Nam không giống ai hết !

          Đây là hình ổng gởi :


                                                                      * * * 
       Ông bạn tôi " khơi " chuyện bình thường làm tôi nhớ lại những hính ảnh lâu nay tôi thấy trên internet mà vẫn tự hỏi : " Sao có thể như vậy được ? ". Thì ra ở quê hương tôi " Nó đã như vậy được " nên mới gọi là " Chuyện bình thường " !

       Đây : hãy coi Sài Gòn cứ sau cơn mưa " hơi lớn hơi lâu " là ngập lụt . Mà loại " mưa hơi lớn hơi lâu " tới mùa là … có mặt " liền tù tỳ ", nghĩa là thành phố cứ nay ngập mai lụt dài dài . Vậy mà chẳng thấy dân chúng đi biểu tình đòi hỏi chánh quyền phải " khai thông " cống rãnh ! Rối thì cứ tự nhiên lội nước đi sanh hoạt, đem lưới ra lưới cá giữa lòng đường  y như ngoài sông rạch, còn trên đầu vẫn có biểu ngữ " Có nước sạch là có sức khoẻ ", đám cưới  vẫn rước dâu bằng xe ba bánh, có ướt chút chút cũng không sao – ngày lành tháng tốt mà ! - Riết rồi trở thành " Chuyện bình thường ", chẳng có gì phải bận tâm hết !

        Không biết chừng nào người dân xứ tôi làm một chuyện … động Trời - gọi là " Chuyện Bất Bình Thường " – nghĩa là cùng đứng lên đòi hỏi nhà cầm quyền phải làm thế nầy, phải làm thế nọ … để cuộc sống của người dân được " nâng cấp " như ở các nước … bình thường khác ?

         Hỏi , tức là … không trả lời ! Than ôi ! …

         Đây : vài hình ảnh " Chuyện Bình Thường " lượm trên internt :

Chuyện Phiếm về MÈO

Từ Mèo Đặng Tiểu Bình đến Mèo Nhà Ta.

- Hello!

- Xin lỗi, ai ở đầu dây đấy ạ?

- Thưa Cụ Đốc, con là Ba Rọi, chủ báo "Mèo Chuột" đây.

- Ô, xin chào ngài chủ báo.  Thưa, chẳng hay ngài chủ báo có điều chi muốn dạy bảo lão đây?

- Dạ, không dám, Cụ Đốc. Cụ là thẩm phán. Năm nay năm con Mèo. Xin cụ "phán" cho một "án lệnh" để loan truyền trên báo nhà.

- Ô hay, ngài có lộn không nhỉ! Ở xứ Mỹ này, thẩm phán lười như hủi, có viết án bao giờ đâu. Luật sư toàn viết sẵn án cho thẩm phán ký đấy chứ?

- Cụ Đốc ơi, báo mình người viết cũng mùi nước mắm, người đọc cũng mùi mắm tôm, nên cụ phải theo luật An Nam chứ! Theo luật nhà mình: Luật sư nói. Thẩm phán viết. Thẩm phán đập búa lên bàn. Còn luật sư gõ vào hầu bao thân chủ.

- Xem ra ngài cũng am tường luật pháp dữ ha? Thế ngài muốn lão viết về cái gì đây?

- Tùy cụ Đốc. Viết gì cũng được, miễn là phải có chút mèo mỡ gì đó, cho nó thích hợp với năm Tân Mão.

***
 
Con Mèo của Đặng Tiểu Bình

Đốc Gàn lấy chiếc ống nhổ, nhả miếng bã trầu đỏ lòm vào. Rồi chậm rãi rít một hơi thuốc lào. Khói bay mù mịt căn phòng. Lão trải mảnh giấy bồi, vàng khè lên chiếc sập gụ và lấy bút lông chấm mực viết.
Từ ngày mất nước đến nay, mỗi độ Xuân về là Đốc nhớ đến Pháp Đình Saigon không thể tả được. Pháp Đình nằm trên đường Công Lý, sơn màu vàng, các cửa màu xanh biển và những đường viền màu trắng. Mỗi buổi sáng, dân chúng tấp nập vào Pháp Đình cầu viện công lý. Các luật sư tay xách cặp Samsonite và xúng xính trong bộ áo  đen cổ trắng đi qua đi lại nhộn nhịp hành lang toà án... Nhớ ơi là nhớ! Thương chết đi được!

Đốc giơ bàn tay lên bấm số tử vi. Miệng lẩm bẩm, mắt mơ màng:

- Năm Quý Mão, 1963, Hoa Kỳ chủ động cuộc lật đổ hai anh em TT. Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Dương Văn Minh cầm đầu nhóm tướng lãnh đảo chánh. Đúng một giáp sau, năm Ất Mão, 1975, Hoa Kỳ rút quân, cũng lại Dương Văn Minh ló đầu trên chính trường vào giờ thứ 25 và ra lệnh đầu hàng quân xâm lăng Bắc Việt. Thế là chế độ VNCH bị khai tử. Cộng Sản Bắc Việt nhuộm đỏ toàn thể Việt Nam. Pháp Đình Saigon từ đó trở thành công cụ cho một chế độ Luật Rừng.

Bỗng Đốc thở dài, tay chân run rẩy, hai dòng lệ chảy dài trên chiếc má hóp bọc da đồi mồi:

- Dòng dã 3 chu kỳ qua đi, Cộng Sản Đông Âu chết đã xanh cỏ, mà sao Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vẫn còn quậy cựa, dâng đất dâng biển cho quan thày Trung Cộng, vẫn còn hành hạ các nhà yêu nước đòi tự do, đa nguyên, đa đảng cho dân, vẫn còn thẳng tay đàn áp các tôn giáo, ức chế giáo dân? Lạ thật?
Cộng Sản đã cai trị thế giới bằng sắt máu và đã giết hại cả 100 triệu người trên thế giới, trong đó, có 65 triệu nạn nhân chết ở Trung Hoa lục địa. Riêng tại Việt Nam gần 2 triệu đồng bào đã chết do chính sách cai trị dã man của Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Nói đến Mèo, người ta nhớ ngay đến câu nói để đời của Đặng Tiểu Bình: "Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột". Câu nói này cùng với sự phục hồi uy tín và quyền hành của Đặng Tiểu Bình đã trở nên một chủ thuyết nhằm cải tiến đời sống xã hội, kinh tế và ngoại giao của Trung Cộng. Thực vậy, với nguyên tắc "Mèo trắng mèo đen", Trung Cộng đã khai tử mọi chính sách và đường lối nặng về "hệ tư tưởng" (ideology), để cổ võ cho đường lối "thực dụng" (pragmatism). Khi đưa ra nguyên tắc này, họ Đặng muốn bắt tay cả với "Tư Bản Đế Quốc Mỹ", miễn sao có lợi cho Trung Quốc là được. Không thể phủ nhận rằng triết lý của họ Đặng có giá trị thực dụng, nhưng rất nguy hiểm xét về khía cạnh đạo đức, vì nó vi phạm nguyên tắc phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh. Và nếu lão dạy cho giống mèo bỏ thói quen bắt chuột thì lập luận của họ Đặng trở nên hụt hẫng, vì Mèo không còn bắt chuột nữa. Mèo trở nên vô dụng đối với họ Đặng.

Dù sao, nguyên tắc "Mèo trắng mèo đen" của Đặng Tiểu Bình đã tạo sinh khí cho Trung Cộng, biến nước này thành một con Cọp hùng mạnh, có thể ăn tươi nuốt sống các nước nhỏ miền Thái Bình Dương. Cộng Sản VN lúc nào cũng theo gót đàn anh Trung Cộng. Khi họ Mao chê họ Đặng thì VN cũng chê nguyên tắc Mèo, nhưng đến khi họ Đặng được phục chức thì VN lại khen rối khen rít triết lý Mèo. Cho đến tháng 12 năm 1978, khi họ Đặng nổi nóng tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ. Phải dạy cho VN một bài học" và rồi ông xua quân đánh VN. Lúc đó VN mới sáng mắt ra. Bọn Tàu khốn nạn thực!

Mèo Và Cọp

Tới đây thì tên đệ tử của Đốc Gàn bước vào. Hắn thấy thày mình đang cúi khòm xuống vẽ mèo vẽ chuột, nên góp ý:

- Bẩm cụ Đốc, con vợ của con càng ngày càng dữ như Cọp. Chắc con phải đi kiếm một con Mèo mướp để thay thế con Cọp nhà con.

Đốc Gàn trợn trừng mắt:

- A, thằng này, mày ngon thật hả con?

- Dạ, sức chịu đựng của con người có hạn mà cụ Đốc.

- Bay vừa nói bay đi tìm một con Mèo, tức là con bồ nhí đấy, phải không? Thế bay có biết tại sao người ta lại gọi tình nhân của những đàn ông đã có vợ là "Mèo" không?

- Dạ, không! Thấy người ta nói sao, con bắt chước vậy.

Đốc giải thích:

- Con mèo nó thích được người vuốt ve và chính nó cũng thích mơn trớn, lăn vào lòng chủ, uốn qua uốn lại, nhõng nhẹo rất tình tứ. Mèo lại còn có tính e thẹn, xấu hổ. Làm gì cũng muốn kín đáo, lén lút. Thậm chí cả cái chuyện đi tiêu xong cũng phải bới đất che đi. Mèo còn dị ứng với màu trắng, màu trong sạch. Những chỗ nào mèo hay đến phóng uế thì thuốc gì rảy vào mèo cũng không sợ, chỉ có cách đổ nước vào một chiếc bình plastic màu trắng để vào chỗ đó là mèo không đến ị bậy nữa. Phong cách những cô nhân tình lén lút với những chàng trai có vợ y hệt như dáng dấp của con Mèo. Từ đó mới có cảnh các bà vợ chổng mông lên trời mà than rằng: "Trời ơi! Chồng tôi có Mèo rồi!"

- Dạ, bây giờ thì con đã hiểu!

- Thế bay có biết Mèo và Cọp khác nhau ở chỗ nào không?

Tên đệ tử xoa hai bàn tay với nhau, cười khoái chí:

- Dạ, biết, biết. Cái này là nghề của con mà!

Cọp luôn luôn gắt gỏng, cằn nhằn, gầm gừ, nhưng Mèo thì dịu dàng, âu yếm, nựng chiều.

Cọp thường muốn mình là Chúa Sơn Lâm. Còn Mèo thì vâng lời, nhu mì, coi người tình là chủ đời mình.

Cọp thì đầu bù tóc rối. Mèo lúc nào cũng miệt mà, óng ả, thơm như múi mít.

Cọp luôn mở ví, xiết tiền lương của chồng. Còn Mèo thì chẳng cần chi, cho bao nhiêu lấy bấy nhiêu, không cho cũng chẳng sao, vì đời em có anh là có tất cả. Tình chưa!

Tên đệ tử như được gãi đúng chỗ ngứa. Nói xùi bọt mép. Nói thao thao bất tận:

- Cụ Đốc ơi, Năm nay nhất định con sẽ ly dị con Cọp cái nhà con, để lấy con Mèo Mới. Tân Mão mà lị!

Đốc Gàn nghiêm nét mặt, cầm chiếc xe điếu chỉ vào mặt tên đệ tử:

- Lão nói cho bay biết: Mỗi lần ly dị là một lần cháy nhà đó nghe con. Ngày xưa ở Việt Nam, tòa lão xử ly hôn, nên lão rành mấy câu Vọng Cổ này lắm. Xứ Mỹ này đàn bà là "năm bơ oăn", nên số phận mấy ông chồng ly dị còn đen như mõm chó ấy. Đừng tưởng ly dị là ngon đâu! Sạt nghiệp đấy con ạ. Từ Mèo biến thành Cọp không xa đâu con ơi, vì chúng cùng một dòng họ mà! Mèo hay Cọp, miễn sao cho mày ôm là tốt rồi. Đêm khuya, tắt lửa tối đèn, nhà tranh cũng như nhà ngói. Ôm Cọp hay ôm Mèo cũng giống nhau cả. Bay đừng quên rằng Mèo nó cũng có móng sắc, có thể cào nát mặt mày. Xong nó trèo tuốt lên ngọn cây cau cười tình. Làm sao mày bắt được nó? Có những ông chồng chán vợ, tưởng rằng đổi vợ là xong. Đó không phải là giải pháp hay. Bao lâu chính mình không thay đổi, lại đi đổi vợ thì cũng như tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa. Đàn bà, ai cũng vậy, bay ơi! Vì vậy, cái hay của đàn ông là làm sao biến con Cọp trong nhà thành con Cọp giấy. Thế là xong!

Đói (3)

Trong năm 1945, lợi dụng tình trạng các đảng phái chính trị tranh nhau nổi lên hoạt động cứu nước, các đảng cướp cũng mọc lên như nấm để kiếm ăn.

 Nạn đói năm Ất Dậu 1945 (vientay.com)

Lúc đầu chỉ là những vụ ăn trộm, đào ngạch, khoét vách vào ban đêm để lục lọi thức ăn dưới bếp. Về sau, nảy sinh ra các đảng cướp, có vũ khí, mã tấu, giáo mác. Chúng ăn cướp có kế hoạch như đi hành quân, hết làng này đến làng khác. Đi tới đâu chúng cũng tìm nhà giầu cướp của, hãm hiếp phụ nữ một cách công khai.

Người ta tự hỏi lúc đó ai đang cai trị mảnh đất Việt Nam? Trên nguyên tắc, thực dân Pháp vẫn còn đang đô hộ Việt Nam trong giai đoạn này. Nhưng khi Pháp đầu hàng Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), thì Nhật (cùng phe Trục với Đức) đã đặt ra nhiều yêu sách đối với Pháp tại Đông Dương. Chẳng hạn Thỏa Hiệp Pháp-Nhật ký ngày 19-8-1942, Pháp phải xuất cảng sang Nhật một triệu tấn gạo lấy từ các mùa gặt năm 1942-1943 tại Việt Nam. Đến ngày 9-3-1945, Nhật mới chính thức đảo chính Pháp và nắm quyền tại Việt Nam. Nhưng lúc đó, Nhật đang lo ngại có thể bị thua trận, nên bề ngoài vẫn phải tuyên bố "long trọng trao trả độc lập cho Việt Nam" để làm giảm sự chống đối của các phong trào đuổi Nhật đang rầm rộ khởi phát. Ngày 17-4-1945 Hoàng Đế Bảo Đại trao quyền cho ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ, nhưng thực chất, Bảo Đại cũng không có quyền hành gì, ngoại trừ việc quản lý nội bộ.

Làng Nam Ninh có một tướng cướp tên là Mãnh Hổ, rất hung dữ, ai cũng phải sợ. Cha xứ được mật báo tên này đang hoành hành ở làng dưới và không bao lâu sẽ đến xóm đạo của cha. Cha liền họp bàn với Đoàn An Ninh để triệt hạ tên này. Đương đầu trực diện thì không được, vì bọn cướp đông người, lại có võ nghệ. Vì thế, kế hoạch được dựng lên là các thanh niên trai tráng sẽ nấp trong nhà dân dọc theo hai bên đường. Dưới đất, nhiều dây thừng căng ngang qua đường được vùi sơ bằng một lớp cát.

Khi Mãnh Hổ và đoàn cướp đi qua ổ phục kích, các dây thừng nhất loạt được giựt lên, ngăn chúng lại. Phía trên mái nhà các mảnh lưới đan bằng dây thừng tung xuống. Thế là cả đoàn bị vướng dây rợ tứ tung, gỡ không ra. Cùng lúc, gạch đá từ hai bên đường tới tấp ném qua và từ mái nhà trút xuống. Toàn bộ băng đảng bị thương, máu me lênh láng, còn phe xóm đạo thì bình yên vô sự. Tướng cướp Mãnh Hổ và toàn bọn bị bắt sống. Cha xứ nạp chúng cho nhà nước trừng trị. Kể từ đó không có đám cướp nào dám bén mảng đến xứ đạo Mông Triệu nữa.

Thực sự thì dân chúng trong làng Nam Ninh ít người bị đói, vì tuy ruộng đất bị quân phiệt Nhật trưng thu trồng đay, nhưng vườn tược chung quanh mỗi nhà khá nhiều, nên họ giồng khoai, giồng sắn hay chuối và các cây thực dụng khác, nhờ vậy, cũng đủ tạm sống qua ngày. Nhà nào lỡ bị túng thiếu chút ít thì bà con lối xóm giúp đỡ chia xẻ cơm áo cho.

Sau gần 2 năm hoành hành, nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu dần dần tan biến nhờ 3 lý do chính:

Thứ nhất, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh ngày 15-8-1945, nên Việt Nam không còn phải xuất cảng một số lượng gạo kếch sù sang Nhật nữa.

Thứ nhì, Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, phi cơ Đồng Minh không còn bắn phá các trục lộ giao thông nữa, nên sự tiếp tế lúa gạo từ miền Nam ra Bắc được dễ dàng.

Thứ ba, dân số tại Bắc Việt đã giảm sút rõ rệt, vì một số khá đông di cư vào Nam lập nghiệp. Còn những người đã thoát chết trong nạn đói không cần di chuyển đi đâu cả. Họ được tiếp tế và bắt tay vào cuộc sống mới.

Sức tàn phá của nạn đói được giảm đi phần nào cũng là nhờ sự hy sinh của tín đồ các tôn giáo. Với tinh thần bác ái của Công giáo hoặc đức từ bi hỉ xả của Phật giáo, các đạo hữu rất hăng say trong công tác cứu đói và làm việc có tổ chức dưới sự lãnh đạo của các tu sĩ. Họ đạo Mông Triệu với cha xứ Giuse Kiên là một trường hợp điển hình của hàng ngàn các xứ đạo khác.

Vào một buổi trưa hè nóng bức, cha xứ Kiên đang ăn cơm thì có tiếng gõ cửa sau nhà. Cha hơi ngạc nhiên vì những người xin ăn không ai vào được cửa phía này, còn giáo dân thì ai cũng biết giờ này cha ăn cơm và ngủ trưa. Họ không  dám phiền cha, trừ trường hợp khẩn cấp lắm. Khi cha ra mở cửa thì thấy một người con gái, mặt mũi hom hem, đội chiếc nón lá rách tả tơi, chứng tỏ đây là một nạn nhân của nạn đói.

- Thưa cha, cha không nhận ra con à?

Cha Kiên lắc đầu nhẹ, hơi nhăn trán lại cố gợi trí nhớ xem là ai. Người con gái tiếp:

- Con là Tình, hội Con Đức Mẹ đây, cha!

Tình là một cô gái trong họ, cha mẹ mất sớm, ở với bà thím. Tính nết hơi lẳng lơ. Cô bỏ làng đi biệt tích cả mấy năm nay. Có người nói đã bắt gặp cô làm "me Tây" ở tỉnh. Cha Kiên cũng được người ta báo tin cho biết như vậy. Hôm nay, bỗng dưng cô trở về thăm cha. Tuy ngạc nhiên, nhưng cha vẫn niềm nở:

- À, Tình, cha nhớ rồi. Kỳ này trông con gầy đi nhiều!

Cô nàng mừng rỡ quá, vì được cha nhận ra. Cô bỏ chiếc nón khỏi đầu và nhìn cha với giọng cầu khẩn:

- Cha có gì ăn không? Cho con ăn với. Con đang đói quá!

Cha Kiên không trả lời ngay. Cha nghĩ rằng biết đâu nhờ cái đói này mà cha có thể đưa nàng trở về cuộc sống ăn ngay ở lành. Cha muốn cứu linh hồn cô trước khi cứu thể xác. Cha nhìn thẳng vào mắt cô:

- Con đã bỏ nhà thờ mấy năm nay. Con hãy sốt sắng giọn mình xưng tội ngay bây giờ, rồi cha cho ăn cơm.

Tự nhiên Tình xìu nét mặt lại, đứng lặng người ngẫm nghĩ hồi lâu. Có lẽ cuộc đời trụy lạc của cô trong suốt mấy năm qua đang hiện ra rõ nét. Cô xấu hổ, không dám xưng tội với cha. Cô ngập ngừng:

- Thôi, thưa cha, vậy thì thôi vậy. Chào cha con đi!

Vừa nói, cô vừa nhặt chiếc nón và chạy đi luôn trước sự ngạc nhiên của cha.

Cha Kiên thở dài, trở lại bàn cơm. Cha vừa lo vừa thương hại cô. Nhưng cha lại nghĩ rằng trước sau gì thì con Tình cũng gặp bạn bè trong Đoàn Cứu Đói cuối nhà thờ. Nó chẳng dám đi xa nữa đâu. Có gì mà phải bận tâm. Vì thế, sau bữa cơm, cha bình thản đi ngủ trưa.

Theo thói quen, sau giờ nghỉ trưa, cha ra nhà thờ đọc kinh Nhật tụng. Vừa quỳ xuống làm dấu thì ông Từ khúm núm đến ghé sát vào tai cha:
- Bẩm lạy cha, con Tình nó nằm chết ở cổng sau nhà xứ mình rồi!

Cha xứ hoảng hốt buột miệng:

- Lạy Chúa!

Nhưng cha lấy lại bình tĩnh ngay và bảo ông Từ:

- Được rồi!

Ông Từ hiểu ý là cha đã được bá cáo. Nhiệm vụ ông đến đây là hết. Ông lặng lẽ lui ra.

Cha Kiên không mở sách kinh ra đọc. Cha quỳ, lấy hai tay úp vào mặt suy nghĩ: Linh hồn và thể xác, cái nào phải ưu tiên cứu cấp? Hồn là quý, xác là hèn. Nhưng không cứu xác trước thì làm sao cứu được hồn?

Cha nhớ đến phép lạ Chúa hóa năm chiếc bánh và hai con cá cho cả hàng ngàn người ăn.   Khi ấy, dân chúng đi theo Chúa đông quá sức. Họ say mê nghe Lời Chúa. Lời Chúa là Lời Hằng Sống. Lời Chúa có sức cải tử hoàn sinh và Lời Chúa đưa con người đến sự sống muôn đời. Nhưng nghe Lời Chúa lâu quá, dân bắt đầu cảm thấy đói, thấy khát. Các tông đồ xin Chúa đuổi dân về đi. Người đông thế này, lấy gì cho họ ăn, lấy gì cho họ uống? Giải pháp của các tông đồ rất đúng và rất thực tế. Nhưng Chúa lại không nghĩ như vậy. Lời Chúa là lời hằng sống để giải quyết cái đói về tâm linh của con người. Nhưng không thể lấy Lời Chúa mà nuôi thể xác con người được. Có thực mới vực được đạo! Phải cho họ ăn uống no nê. Bao tử có đầy thì mới có sức mà theo đạo và giữ đạo. Chúa muốn cho họ ăn uống để tiếp tục nghe Chúa giảng đạo. Vì đuổi dân đi, lấy ai theo đạo? Và vì thế, Chúa đã làm phép lạ với chỉ 5 chiếc bánh và 2 con cá mà 5.000 ngàn đàn ông - chưa kể đàn bà con nít - được ăn thỏa thuê, lại còn dư cả thùng, cả thùng.

Cha Kiên tự hỏi mình: Hay là chính cha có lỗi đã bỏ Tình chết đói? Cha không cần và cũng không thể làm phép lạ như Chúa, vì cha đang dư thức ăn để cho đi. Chưa hết đâu! Cha để cho cô chết trong tình huống tội lỗi này, có thể cô chết mất linh hồn lắm chứ? Phải chăng cha đã giết cả linh hồn lẫn thế xác của Tình? Cha bắt đầu lo lắng. Không biết Tình còn nhớ bài học giáo lý cha đã dạy mà ăn năn tội cách trọn trước khi chết không? Con người chỉ cần một giây, một phút nhớ đến Chúa và hối hận vì đã phạm tội mất lòng Chúa trong giờ sau hết là đủ để Thiên Chúa lòng lành tha thứ hết mọi tội lỗi.

Cha không muốn nghĩ tiếp nữa. Cha xin phó dâng tất cả trong tay Chúa. Tuy nghĩ vậy, nhưng lương tâm cha vẫn còn áy náy. Bất chợt, qua cửa sổ trước mặt, cha nhìn thấy anh Phạm văn Độc, Trưởng Đoàn Tobia, con ông bà Giáo Hiệt vừa đi ngang qua. Cha chạy vội ra, gọi anh lại gần:

- Anh Độc, anh còn nhớ cô Tình, hội Con Đức Mẹ trước đây không?

- Dạ, con nhớ chứ cha. Cô vừa chết ở cổng sau nhà xứ, chúng con đã bỏ xác lên xe bò, sắp sửa đem đi chôn.

Cha nói thật chậm, sợ anh Độc nghe không rõ lệnh của cha:

- Tôi muốn làm phép xác cô ta trong thánh lễ chiều nay tại nhà thờ. Anh báo với ông Trùm cho tôi như vậy nhá!

Vâng lệnh cha xứ, anh giữ xác cô Tình lại để làm phép trước khi chôn. Khổ nỗi, xác cô lại nằm dưới cùng trong chiếc xe ba gác. Thế là anh em trong Đoàn lại phải khênh từng xác chết xuống, mới lấy được xác cô Tình ra.

Trong Thánh lễ chiều hôm đó, xác cô Tình được bó trong một chiếc chiếu do họ đạo cung cấp. Cha làm lễ cầu hồn và rảy nước Thánh lên xác của cô trước khi đem đi chôn. Mọi người đọc kinh Vực Sâu cầu cho linh hồn Maria.

Sau lễ, bên ngoài tiền đường nhà thờ, các bà xúm nhau lại, xì xầm bàn tán um cả lên:

- Gớm, cái con đĩ này mà cha còn làm lễ, làm lạy gì cho nó. "Me Tây" thì chỉ có sa hỏa ngục!

- Cái con này nó lẳng lơ lắm cơ đấy. Cha cụ cũng phải giữ mình, không thì cũng chết với nó!

Biết rằng các bà đã bàn luận lạc đề khá xa, nên có tiếng đàn ông xen vào:

- Thôi đi các bà ơi! Cho tôi can. Đừng có xét đoán người ta. Lo thân mình đi. Đàn bà ai mà chẳng lẳng lơ. Tội hay không thì chỉ có Chúa biết.

Thằng Kích có tiếng là hay trêu chọc các bà cũng xông vào ăn có:

- Thôi đi các mệ! Các mệ có biết chuyện Diêm Vương không? Để tôi kể các mệ nghe: Ngày kia Diêm Vương bắt được hai phụ nữ: Người thứ nhất là gái giang hồ. Người thứ hai là hội viên Hội Con Đức Mẹ. Diêm Vương hỏi cô gái giang hồ:

- Chị kia, chị làm gì ở trần gian?

- Dạ, con mua vui cho thiên hạ. Ai buồn bực, đến gặp con là ra về vui vẻ như Tết.

Diêm Vương cười hả hê:

- Thế thì tốt. Cho trở về trần gian làm người tiếp. Chúc vui vẻ!

Diêm Vương quay sang hội viên Hội Các Bà Mẹ:

- Còn chị kia, chị làm gì?

- Dạ, con thờ chồng nuôi con. Hằng ngày chịu khó đọc kinh xem lễ. Con vào Hội Các Bà Mẹ để kể cho nhau mọi thứ chuyện trong xứ đạo. Hội chúng con nhiều chuyện vui lắm!

Diêm Vương vội vàng ngắt lời:

- Bắt! Bắt ngay lấy con mụ lắm chuyện này. Âm phủ đầy dẫy những mụ lắm chuyện như con mụ này!

Thằng Kích phá lên cười, dòn như nắc nẻ. Các bà thì vừa bực vừa buồn cười về câu chuyện tếu nó vừa kể, nhưng vẫn la lối xỉa xói:

- Bắt! Bắt cái đầu mày. Bà đánh cho chết bây giờ, cái thằng khỉ gió này!

Đói (2)

 Làm việc bác ái cũng phải làm cho khôn ngoan.

 
                  Nạn đói Ất Dậu tại Thái Bình
              (Hình của Võ An Ninh - tuoitre.vn)

 Trong suốt bao nhiêu tháng trời, cảnh tượng những con người với bộ xương bọc da đã trở thành một tai họa nặng nề kinh khủng đổ xuống gia đình ông bà Trùm Hương. Nhưng ông lại không quan niệm như vậy. Ông bảo rằng Chúa thương gia đình ông nên mới gửi Thánh Giá đến để ông vác đền tội lập công trên nước Thiên Đàng. Mỗi tối, khi đọc kinh chung trong gia đình, ông động viên tinh thần mỗi người:

- Đời sống trần thế thì vắn vỏi. Khổ cực cách mấy thì cũng không quá 100 năm. Cuộc sống đời sau mới là vĩnh cửu.

Một buổi sáng kia, cô Tin ra mở cổng, vừa nâng thanh gỗ chốt cửa ra thì bất chợt hai cánh cửa đẩy mạnh về phía cô. Bình thường, cô phải kéo mạnh mỗi cánh cửa về phía mình, vì cửa làm bằng gỗ lim rất nặng. Hôm nay, cả hai cánh cửa bỗng nhiên đập mạnh vào mặt cô khiến cô té ngửa người xuống đất. Thì ra vào đêm hôm trước, hàng trăm người đói khát đã đứng chờ sẵn trước cửa nhà ông Trùm. Nhiều người đứng tựa vào cửa và đã chết đứng tại chỗ. Khi chốt cửa vừa mở ra, sức đẩy của hàng trăm người ép vào cánh cửa, đập vào người cô Tin, khiến cô té xuống đất, nằm sõng soài. Cô bị hàng ngàn người hốt hoảng như những con ma đói tràn vào như sóng và dẵm nát thân thể cô. Cô tắt thở ngay tại chỗ.

Nhà ông bà Trùm Hương hôm đó tan hoang. Những người hành khất từ phương trời xa lạ như những con chó sói đói, cuồng điên xông vào phá kho gạo dự trữ. Có những tên bất lương lợi dụng thời cơ vào cả trong nhà lục lọi và lấy đi tất cả những gì chúng có thể mang đi được.

Phải mất cả tiếng đồng hồ, ông Trùm Hương mới tìm thấy xác con, máu me đầy người, nằm chết chung với một đống xác người chỉ còn da bọc xương. Trước hoàn cảnh bi đát này, ông Trùm gọi tất cả con cái và gia nhân tạm thời rút khỏi nhà, đến tá túc tại mái hiên tiền đình nhà thờ. Họ đem theo cả xác cô Tin.
Cha xứ Giuse Kiên cho lệnh giật chuông nhà thờ báo động. Mọi giáo dân, già trẻ lớn bé, khi đến nhà thờ, nhìn thấy xác cô Tin, mới biết tai họa vừa xảy đến cho gia đình ông Trùm Hương. Ai cũng bùi ngùi đau đớn trước cảnh "làm phước nên tội" này.

Bà Trùm Hương khóc rũ rượi:

- Chúa ơi, Chúa ở đâu? Sao con khổ thế này?

Ông Trùm ghé sát vào tai bà, an ủi:

- Bu mày đừng khóc lóc như vậy. Chúa có thương thì Chúa mới gửi Thánh Giá cho mình vác.

Rồi ông ngước mắt lên trời lâm râm nhắc lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi bị treo trên Thánh Giá:

- Lạy Cha, xin cất chén đắng này cho con, nhưng xin theo ý Cha, chứ đừng theo ý con!

Tất cả các hội đoàn trong họ đạo, theo sự hướng dẫn của cha xứ, đã tổ chức đám táng cho cô Tin thật trang trọng. Trong hoàn cảnh đói kém, người chết nằm ngổn ngang đầy đường, ông Trùm Hương chỉ xin mọi người thêm lời cầu nguyện cho linh hồn con gái ông, còn mọi hình thức khác, ông xin được giản tiện tối đa, không có tiệc tùng như thông lệ sau mỗi đám tang. Quan tài của cô Tin được các giáo dân và cha xứ rước từ nhà thờ ra nghĩa trang Mả Sặt. Cậu bé Đốc Gàn ở trong đoàn cầm cờ tang dẫn đầu đoàn rước. Nhiệm vụ cầm cờ này Đốc làm thay cho người cha đi vắng, vì theo cấp bậc trong làng, cha của Đốc Gàn được chỉ định vào "chức" cầm cờ trong các buổi đình đám, lễ hội.

Ngay sau đám táng cô Tin, cha Kiên cho triệu tập tất cả các thanh niên, thiếu nữ trong họ lại để lập Đoàn Cứu Đói, Đoàn An Ninh và Đoàn Tobia. Đoàn Cứu Đói có nhiệm vụ nấu cơm cháo và phát chẩn cho người ăn xin. Đoàn An Ninh có nhiệm vụ canh gác ngày đêm khu vực họ đạo, không cho người ăn xin đến gõ cửa từng nhà, để tránh tình trạng người chết nằm la liệt ở khắp các hang cùng ngõ hẻm, gây sợ hãi và bệnh tật cho mọi người. Còn Đoàn Tobia lo việc chôn cất những người chết trong ngày.

Theo lệnh cha xứ, từ nay tất cả thóc gạo, đồ ăn thức uống, quần áo cứu đói phải được tập trung ở cuối nhà thờ để Đoàn Cứu Đói và Đoàn An Ninh quản thủ và cấp phát.

Tối hôm đó, ông bà Trùm Hương được Đoàn An Ninh hộ tống đưa về nhà. Nhìn cảnh tượng nhà tan cửa nát, đồ đạc bị lục lọi, mất mát thì dù có đạo đức cách mấy cũng phải đau lòng xót ruột và buồn chán. Duy chỉ có mình ông Trùm vẫn giữ được bình tĩnh, tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa an bài. Khi thấy mọi người khóc lóc, rầu rĩ, ông trấn an:

- Thánh Gióp ngày xưa giầu có biết bao nhiêu, con cháu đầy đàn, vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, ông mất hết tiền của, con cháu và bạn bè, phải nằm trên đống tro ở chuồng heo. Kinh Thánh viết rằng Chúa đã khen ông Gióp là người đơn sơ ngay thẳng, kính sợ Chúa, xa lánh tội. Chúa cũng khen ông là người có một không hai trong loài người. Còn mình đau khổ có thấm tháp gì so với ông Gióp!

Đêm đó, Đoàn An Ninh còn lôi được thêm mười xác chết ở vườn sau nhà ông Trùm ngay gốc mấy cây chuối đã bị đào tróc rễ.

Thực ra, trong xóm đạo còn có một gia đình cũng giầu không kém gì ông bà Trùm Hương. Đó là ông bà Giáo Hiệt. Dân làng gọi ông là "Giáo", vì có thời ông mở lớp dạy học chữ quốc ngữ. Tuy hồi thiếu thời, ông được cha mẹ gửi lên tỉnh Thái Bình học, nhưng chưa đậu được bằng cấp gì thì cha mẹ đã gọi về để coi sóc thợ thuyền, vì ông là con một trong gia đình. Ông tổ chức lớp học gồm cả trai lẫn gái, nên bị các bà lời ra tiếng vào, rồi đi tới chỗ tẩy chay. Theo các bà, con gái không cần biết chữ, biết chữ chỉ để viết thư cho trai thôi, chứ chẳng được tích sự gì. Vì thế ông Giáo Hiệt bất mãn dẹp lớp học luôn.

Ông bà Giáo Hiệt có tới sáu người con. Vốn ảnh hưởng nếp sống phóng khoáng ngoài tỉnh thành, ông thích bàn chuyện chính trị và thường giao tiếp với lãnh tụ nhiều đảng phái. Ông đặt tên các con cũng theo tinh thần yêu nước. Bà Giáo Hiệt mắn đẻ, cứ năm một, bà cho ra đời một đứa con trai. Ông đặt tên bốn đứa con trai là : Độc, Lập, Tự, Do.

Sau đứa con thứ tư, ông Giáo cảnh giác vợ:

- Thôi, nghe bà! Bốn thằng con trai là quá đủ rồi. Đẻ thêm một thằng nữa, hóa ra ngũ quỷ đấy nhá! Bà ráng đẻ cho tôi hai đứa con gái nữa thì tôi sẽ đặt tên cho nó là Hạnh và Phúc. Độc, Lập, Tự, Do, Hạnh, Phúc.  Quá đẹp!

Quả nhiên ba năm sau, bà Giáo cho ra đời đứa con gái. Nó mang tên Phạm thị Ngọc Hạnh.

Nếu nói rằng ông bà Giáo Hiệt giầu có mà keo kiệt thì không đúng, vì ông cũng rộng rãi tham gia công việc bác ái trong họ đạo, nhưng rất kín đáo và có tính toán. Ông thường nói rằng:

- Chúa dạy ta khi làm việc bác ái thì phải kín đáo. Làm phúc bằng tay phải thì đừng cho tay trái biết.

Vì vậy, ông Giáo Hiệt thường công đức qua ngả nhà thờ, nghĩa là ông giúp đỡ ai cũng đều qua cha xứ. Điển hình là trong vụ cứu đói này, nhà ông bà chỉ cách sân bên hông nhà thờ có một cái ao. Chờ lúc vắng người, ông cho gia nhân gồng gánh gạo và muối vòng theo con đường nhỏ sát bờ ao sang nhà thờ, giao cho cha xứ. Còn cổng nhà ông thì cửa đóng then cài ngày đêm. Có ai đến xin ăn thì người nhà bảo lên nhà thờ và quả thực tại đây họ được phát đồ ăn.

Từ khi xảy ra vụ lộn xộn cướp phá nhà ông Trùm Hương, ông Giáo Hiệt còn rộng tay bố thí hơn nữa. Ông bí mật liên lạc với các đảng phái, nhất là cán bộ Việt Minh, đưa tiền cho họ mua gạo và giao tận nhà cho ông. Cái khôn ngoan của ông Giáo Hiệt là ông không công khai xây kho lúa hay kho gạo cho mọi người trông thấy, vì biết rằng để của nổi trong nhà lúc này là rước họa về nhà. Khi nạn đói vừa xảy ra, ông cho bí mật đào hầm chứa gạo ngay dưới sàn nhà bếp. Chỉ có các gia nhân thân tín và chính các con ông đào chiếc hầm  này. Còn lý do ông bỏ tiền mua gạo của các đảng phái, vì lúc đó đang có phong trào "Đánh Pháp - Đuổi Nhật", nên đảng nào cũng phải hoạt động mạnh để lôi kéo lòng dân. Nhiều chuyến xe chở gạo cứu trợ của chính phủ từ Nam ra Bắc bị các đảng phái phục kích lấy hết, nên họ thừa gạo nuôi đảng viên, lại còn dư đem bán. Thêm nữa, chỉ có các đảng phái võ trang chở gạo thì mới không bị dân chúng chặn xe ăn cướp mà thôi.

Tuy nhiên, bà giáo Hiệt không thích kiểu sống bác ái kín đáo như thế này. Có nhiều khi bà bị người trong xứ mắng khéo để lọt đến tai bà:

- Giàu có mà keo kiệt thì phải nói đến ông bà Giáo Hiệt. Dân chúng chết đói la liệt ngoài đường mà ông bà ấy cứ bình chân như vại, chẳng cho ai một bát cơm, chén cháo!

Họ có biết đâu là ông bà cũng làm phúc bố thí cũng chẳng kém gì ông bà Trùm Hương, nhưng mọi việc đều diễn ra một cách rất âm thầm. Thỉnh thoảng cha xứ Kiên lên tòa giảng cám ơn ông bà Trùm Hương về tấm gương bác ái. Còn tên tuổi ông bà Giáo Hiệt thì chẳng bao giờ được cha nhắc tới. Nhưng bà Giáo Hiệt đâu có biết là chính chồng bà đã năn nỉ xin cha đừng bao giờ nhắc đến tên ông giữa đám đông người. Nhiều lúc bà Giáo Hiệt còn ra mặt giận dữ trách chồng:

- Đức bác ái của ông sao mà nhút nhát quá vậy! Chúa nói đèn thì phải để trên cao soi sáng cho thiên hạ biết lối mà đi. Còn đèn của ông sáng mà lại bỏ xuống hầm kín. Mình làm việc nhân việc nghĩa, chứ có ăn gian nói dối gì mà cứ phải giấu giấu, đút đút.

Ngược lại, bà Trùm Hương thì phải chịu quá nhiều cực khổ do tấm lòng bác ái, nhất là sau vụ con bà - cô Tin - bị chết thảm thương. Mỗi lần nhớ thương con, bà quay sang cằn nhằn ông Trùm:

- Tôi thấy ông giữ đạo và làm việc bác ái mà không có sự khôn ngoan. Chúa dạy phải khôn ngoan như con rắn và hiền lành như chim bồ câu. Cứ xem gia đình nhà ông Giáo Hiệt ấy. Người ta cũng làm phúc bố thí, mà khôn ngoan, nên gia đình bình yên, con cái đỡ cực nhọc. Đàng này nhà mình lúc nào cũng như cái chợ ấy. Có lúc ốm đau nằm nghỉ cũng không yên. Nhà cửa thì bị trộm cướp có vũ khí rình rập đêm ngày. Chẳng biết sống chết ra sao.

Nghĩ cho cùng thì đây cũng chỉ là hai cách sống đạo khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích: Bác Ái. Có tấm lòng bác ái đã khó, nhưng có khả năng để bố thí lại càng khó hơn. Rồi khi hành xử lòng từ bi bác ái, cũng cả là một vấn đề gian nan. Không phải Trời Phật ân thưởng ngay trong cuộc đời này, mà trái lại có khi còn bị nhiều tai nạn hoặc hàm oan nữa. Cuộc sống của ông bà Trùm Hương và Giáo Hiệt là những trường hợp điển hình.

Tuy vậy, nhiều khi trên đời cũng có những tấm gương hy sinh, bác ái gặp may. Một lần kia đi lễ, Đốc nghe một cặp vợ chồng được cha xứ cho lên toà giảng cổ võ giáo dân đóng góp tài chánh hằng năm cho Giáo Hội. Anh chị chưng diện quần áo bảnh bao, xức thuốc thơm đắt tiền, lượn qua lượn lại trong nhà thờ, khiến ai cũng được hưởng lây mùi thơm. Anh chị khuyên giáo dân nên rộng tay đóng góp cho Giáo Hội qua kinh nghiệm của chính bản thân họ:

- Vợ chồng chúng tôi xin được làm chứng với quý vị điều này: Trước đây gia đình chúng tôi rất là nghèo. Nhưng cứ mỗi lần đóng góp cho nhà thờ một thì Chúa lại thưởng cho chúng tôi mười. Và nhờ vậy ngày nay gia đình chúng tôi trở nên giàu có, ăn ngon mặc đẹp. Con cái đều học hành thành tài và đời sống rất hạnh phúc. Chúa là người cha rất giàu có và rộng lượng. Ngài không thua bất cứ một người cha nào trên thế gian này về lòng rộng rãi.

Đốc đang khấp khởi mừng thầm vì có thêm một động lực mới đóng góp cho chương trình quản lý nhà Chúa. Chợt có tiếng xì xầm phía sau:

- Gớm, chỉ có cái tài lẻo mép. Vợ chồng mở miệng ra là cãi nhau về tiền. Hạnh phúc, giàu có cái khỉ gì? Tiền dâng cho Chúa mà cứ như là tiền cho Chúa vay một ăn lãi mười vậy.

Đói (1)

Nạn Đói Năm Ất Dậu:

 

 


 
                          Cây Đa Hẹn Hò

"Tầu cười, Tây khoái, Nhật no,
 Việt Nam hết gạo chết co đầy đường"

Vào một ngày của tháng Ba năm Ất Dậu, 1945, trong căn nhà sàn đất, tường gỗ ba gian, chỉ có hai mẹ con Đốc Gàn ngồi dệt cửi và quay suốt. Cậu bé hỏi:

- U ơi! Sao dạo này mỗi ngày u con mình chỉ được ăn một bữa cơm, một bữa cháo thế này? Con đói run, không quay suốt được.

Người mẹ trẻ ngồi trên khung cửi tiếp tục dệt vải và thương hại nhìn về phía đứa con năm tuổi đang ngồi quay suốt dưới đất:

- Thì gạo lúa sắp hết rồi. Có tiền cũng không mua được. Mình phải ăn dè ăn xẻn, kẻo hết gạo lấy gì mà ăn. Con không thấy người ta chết đói đầy đường đó sao?

Nguyên nhân nào đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu?

Gạo là thức ăn chính của dân chúng Việt Nam nhưng đã biến mất trên thị trường, vì:

Thứ nhất, Nhật Bản áp lực Pháp ra lệnh cho nông dân Việt dùng ruộng đất trồng đay, bông vải - thay vì lúa - để phục vụ nhu cầu quốc phòng. Vì thế, trong dân gian, đã có câu ca dao rằng:

Ai ơi khổ nhất giồng đay,
Giồng đay, đay nghiến có hay nỗi gì?
Phá ngô bỏ ruộng mà đi,
Nhổ cây đay đắng có khi rũ tù.

Thứ nhì, chính phủ Pháp tích trữ một số gạo khổng lồ để nuôi quân, đề phòng nguồn tiếp tế từ Pháp chuyển đến không kịp. Đàng khác, Nhật cũng áp lực Pháp phải cung cấp một số gạo đủ nuôi sống Quân Đoàn 38 trú đóng ở Đông Dương trong sáu tháng.

Thứ ba, tất cả các phong trào kháng chiến "Đánh Pháp-Đuổi Nhật" đều lo tích trữ lương thực để nuôi quân. Việt Minh có kho dự trữ lớn nhất. Các lực lượng này đã phục kích các đoàn xe tiếp tế lương thực từ Nam ra Bắc.

Thứ tư, không lực của phe Đồng Minh đã oanh tạc phá hủy các hệ thống giao thông để ngăn chặn đường tiến quân của Nhật, khiến việc canh tác ruộng đất bị đình trệ và đường tiếp tế bị cắt đứt.

Tầu cười, Tây khoái, Nhật no,
 Việt Nam hết gạo chết co đầy đường.
                                      

Làng Nam Ninh của Đốc Gàn chia ra hai xóm. Xóm trên gồm toàn người theo đạo Công Giáo, sống quây quần chung quanh một ngôi nhà thờ mái ngói, được đặt tên là Họ Đạo Mông Triệu. Xóm dưới gồm những người theo các đạo khác. Trước cửa nhà thờ Mông Triệu có một đài Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chôn 14 bộ hài cốt của người trong làng đã bị vua Minh Mạng xử tử vì không chịu bỏ đạo Công Giáo. Hai ông tổ của Đốc Gàn nằm trong danh sách 14 vị tử đạo này.

Trước đài có một ngôi nhà xây gạch đỏ đẹp nhất họ. Đó là nhà ông bà Trùm Hương, nổi tiếng giầu có. Ông nhận chức "Trùm" vì có thời được dân làng bầu làm trưởng khóm. Tuy chức này không chính thức nằm trong hệ thống cai trị nhà nước và cũng không có ghi trong bản hương ước, nhưng vẫn là chức vị được mọi người kính nể. Nhất là cả hai ông bà lại rất đạo đức, các cha xứ đều thương mến. Ông bà có hai con trai và ba con gái. Cô Tin, con gái đầu lòng, 17 tuổi. Cô Cậy, 9 tuổi và cô Mến, gái út, 3 tuổi. Hai cậu con trai, Trần Thái Hòa, 15 tuổi và Trần Công Bình, 13 tuổi. Tất cả năm người con của ông bà Trùm Hương đều ngoan đạo như bố mẹ. Sáng tối đi nhà thờ đọc kinh, xem lễ và công đức rất rộng rãi mỗi khi nhà thờ mở cuộc quyên góp. Ông bà thuê thày giáo từ tỉnh Nam Định về dạy học riêng cho các con.

Nạn đói thực sự bắt đầu từ vụ mất mùa năm 1943 và trải dài từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ra đến các tỉnh miền đồng bằng Bắc Việt. Hai tỉnh có số người chết đông nhất là Nam Định và Thái Bình. Theo tài liệu của một người Nhật là ông Yoshizawa Minami thì số người Việt Nam chết trong nạn đói là 2 triệu.  (1)
Còn giáo sư người Mỹ, ông David G. Marr lại ước tính con số này là 1 triệu người. (2)

Thấm nhuần tinh thần bác ái của đạo Công Giáo, ông Trùm Hương thường nhắc nhở mọi người trong nhà, từ bà Trùm đến các con và kẻ ăn người ở phải thực hành lời Chúa dạy trong Phúc Âm: "Ai cho người đói khát bát cơm, chén nước là cho chính Chúa". Ông còn nhấn mạnh thêm rằng:

- Trong ngày tận thế, Chúa chỉ phán xét công tội của con người căn cứ vào các hành vi bác ái họ đã làm khi còn sống mà thôi.

Từ khi có nạn đói xảy ra, vào mỗi buổi sáng, cô Tin có bổn phận ra mở cổng, mời những người xin ăn vào cả trong sân. Mọi người trong nhà lớn bé đều theo lệnh ông Trùm Hương ra phát cơm và giúp đỡ những người đau yếu. Có người ăn no quá, nằm lăn ra chết vì "bội thực". Lại có người nhìn thấy chum mắm tôm của ông Trùm để ngoài sân, háu đói thò tay múc rồi húp ừng ực như húp cháo. Người khác đến kho thóc, bốc những nắm thật lớn, rồi nhồi nhét vào miệng nhai nghiến ngấu và nuốt trửng. Một hồi sau, những người này cũng lăn ra chết. Lý do vì mắm tôm chỉ là thứ gia vị, chứa nhiều vi khuẩn độc; còn thóc là hạt gạo chưa lột lớp vỏ nên rất sắc và nhám, khi nuốt những thứ ấy vào trong dạ dày đang trống rỗng thì chẳng những không giúp ích gì cho cơ thể, mà chỉ làm tan nát dạ dày đang đói, nên tránh sao cho khỏi cái chết!

Tin tức về lòng hảo tâm của gia đình ông bà Trùm Hương cứu đói được truyền miệng rất nhanh đến các làng xung quanh. Số người xin ăn đổ về nhà ông càng ngày càng đông. Lúc đầu, ông bà còn ấn định giờ giấc phát cơm và xếp hàng cho có trật tự. Nhưng ngày qua ngày, kho lúa vơi dần nên sau đó ông bà phải phát cháo thay vì cơm.

Đến cuối năm 1944, nạn đói tại hai tỉnh Nam Định và Thái Bình trở nên hãi hùng, nhất là vào khoảng giữa tháng 10 đến tháng 11 lại xảy ra một trận lũ lụt. Nhà cửa, đồng ruộng, vườn tược bị nước tàn phá hết. Các phương tiện lưu thông tiếp tế bị tắc nghẽn. Khắp hang cùng ngõ hẻm, từ thành thị đến thôn quê, xác người da bọc xương trần truồng nằm chết la liệt. Người sống phải lấy quần áo người chết để che ấm cho mình. Không còn một thứ rễ, củ hay hoa lá, sâu bọ nào có thể nhai được mà người ta bỏ sót. Có nơi người ta đã bắt đầu ăn thịt người chết để chống đói. Mỗi buổi sáng, các phương tiện chuyên chở được trưng dụng để đem hàng đống xác chết đi chôn ở các hố đào vội vàng và phủ lấp qua loa một lớp đất mỏng. Các nhân chứng kể rằng trong đống xác chết vất xuống hố, có cả những người còn đang hấp hối. Họ thều thào khẩn nài: "Đừng chôn sống tôi! Hãy để tôi chết đã rồi hãy chôn!" Mùi hôi thối nồng nặc bay khắp nơi và tại một số vùng đã bắt đầu có bệnh dịch.

Ngay tại ngã ba quốc lộ 1 và con đường lớn dẫn vào Họ Đạo Mông Triệu có một cây đa rất lớn. Các cụ trong làng cho biết nó đã có từ trên 100 năm qua. Các nhánh cây rủ xuống đất theo đường hàng ngang, tạo nên một bức tường dài khoảng 5, 6 thước. Nhờ bóng mát cây đa mà ngã ba này trở thành điểm dừng chân của các chuyến xe đò và khách bộ hành. Những người bưng thúng bán mẹt tụ tập tại đây thành một cái chợ di động. Họ bán nước, trầu cau, thuốc lào, thuốc vấn... Phía sau cây đa trở thành một nhà vệ sinh công cộng lộ thiên cho khách phương xa.

Nguời ta gọi đây là Cây Đa Hẹn Hò, vì tương truyền rằng từ thời xa xưa, có một đôi trai gái dùng gốc cây đa này làm nơi hò hẹn. Nàng là con nhà giàu có trong làng, có tài thổi sáo. Chàng là con nhà nghèo, nhưng có tài làm thơ và ngâm thơ. Hai bên thương yêu nhau, nhưng cha mẹ nàng phản đối kịch liệt vì không "môn đăng hộ đối". Vì thế, mỗi đêm chàng và nàng thường hẹn hò nhau ra gốc cây đa này. Nàng thổi sáo, chàng ngâm thơ. Họ than thân trách phận cho cuộc tình dang dở bằng những bài thơ sầu muộn ngâm vang hòa lẫn tiếng sáo thật não nề. Vào một đêm mưa bão, hai bên đang tình tự với nhau thì một tiếng sét kinh hoàng xé đôi cây đa và chặt đứt hai thân thể của đôi tình nhân đang ôm nhau ân ái. Từ đó, mỗi đêm dân làng nhìn thấy hai bóng người mặc áo trắng xóa phủ từ đầu xuống chân bay lượn quanh cây đa và có tiếng sáo văng vẳng đâu đây. Ban ngày, người ta tụ tập đông đúc buôn bán, nhưng khi mặt trời lặn là mọi người vội vã rời khỏi nơi này, nhất là những đêm mưa. Kể từ khi có nạn đói, ngày nào cũng có người chết ở gốc cây đa này. Vì thế, mỗi đêm người ta nhìn thấy rất nhiều bóng ma áo trắng lảng vảng ở đây.

Vào một buổi chiều kia, có một cặp vợ chồng với một đứa con nhỏ miệng luôn ngậm vú mẹ dừng chân tại gốc Cây Đa Hẹn Hò này. Cậu bé Đốc Gàn tò mò đến gần. Bất chợt, người chồng đưa hai cánh tay gầy guộc ra vồ lấy cậu. Nhanh như chớp, ông ta thọc hai bàn tay vào túi cậu. Nhưng trong túi chẳng có gì cả. Theo phản ứng tự nhiên, cậu bé vùng mạnh và la:

- Buông tôi ra! Buông tôi ra!

Người đàn ông té bò ra đất. Ông thều thào:

- Em có gì ăn không? Anh chị đói quá!

Cậu bé Đốc Gàn vừa tức vừa sợ, nhưng khi nhìn thấy đứa bé đang ngậm vú mẹ, cậu mủi lòng, nghĩ đến thân phận mình. Đã từ lâu, cậu muốn có đứa em để chơi chung. Có lần cậu hỏi mẹ: "U ơi, bao giờ u có em bé?" Mẹ đỏ mặt ấp úng trả lời bâng quơ: "Thì làm sao mà biết được. Con chỉ hỏi vớ vẩn thôi!"

Cậu đưa tay trấn an người cha của đứa bé:

- Ông chờ tôi về lấy đồ ăn nhá!

Nói rồi, cậu ta chạy nhanh về nhà, vào bếp lấy hết hai củ khoai lang để trong rổ và chạy vội ra gốc cây đa. Tới nơi, cậu thấy người chồng nằm ngửa, không động đậy, còn người vợ nằm nghiêng, ôm đứa con nằm co quắp, miệng vẫn còn ngậm vú mẹ. Cậu bé đến gần nói lớn:

- Tôi mang khoai ra cho anh chị đây! Tỉnh dậy mà ăn!

Cậu chỉ gọi vậy thôi, chứ không dám đụng vào người họ. Ba thân xác vẫn nằm bất động. Một người lạ vừa chống gậy đi tới, nói với cậu:

- Họ chết rồi! Gọi làm gì nữa!

Nói chưa dứt lời, người này giựt luôn một củ khoai trong tay cậu. Chẳng may, củ khoai rớt xuống đất, bẹp dị, dính đầy cát. Người này sợ cậu lấy lại, liền nằm xoài ra đất, vồ lấy củ khoai bẩn thỉu ấy, nhét nhanh vào miệng. Đốc Gàn thấy vậy, ôn tồn:

- Đây, tôi cho ông củ khoai này luôn!

Rồi cậu bé Đốc Gàn buồn bã, lững thững trở về, đem theo hình ảnh đứa bé nằm chết bên cạnh mẹ cha.

Người Hà Nội kể rằng có một điều kỳ lạ là đang khi nạn đói xảy ra như vậy thì lại có nạn dịch chuột cống. Hằng hà sa số những con chuột cống to bằng con mèo từ lỗ cống chui lên, thản nhiên bò trên đường phố, không biết sợ người, lại còn trố mắt trừng trừng nhìn người đi qua. Các tổ chức thiện nguyện đang vất vả chôn cất người chết, lại phải lo bẫy chuột và chôn chuột để tránh dịch hạch.

Những xác chết trên đường thì còn được mang đi chôn, còn những xác ở giữa đồng hay bờ rào, bụi tre thì cứ nằm chết thối rữa ra. Vì thế, đến vụ mùa năm sau, tức năm 1946, đồng ruộng tươi tốt, được mùa lạ thường. Người ta giải thích là nhờ xác người trở thành phân bón nên mùa màng mới trù phú như vậy.

CHÚ THÍCH:

(1) Tài liệu "Chiến Tranh Châu Á Trong Tiềm Thức Của Chúng Ta". Bản dịch của Ngô Thế Vinh, trích dẫn trong bài "Từ Ất Dậu 1945, 60 năm đi tới cây cầu Cần Thơ 2005", đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000, tr. 170-171
 
(2)  "Vietnam 1945, The Quest for Power", University of California Press, Berkeley, 1995, tr. 97-98

Việt (3)

Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc đựng trăm trứng, rồi trứng nở ra trăm con. Dù con lên núi hay xuống biển thì nguyên lý Mẹ đã bắt nguồn từ đó. Nói cách khác, từ nguyên thủy, xã hội Việt Nam theo chế độ "mẫu hệ".

"Trong các cuộc tế lễ hội hè, đình đám, vai trò chủ tế thuộc phụ nữ. Về sau nam giới mới được tham dự đồng tế. Trống đồng không chỉ là một nhạc cụ mà còn biểu hiện uy lực của một thị tộc, mà người đánh trống khai mạc phát ra một hiệu lệnh bao giờ cũng là nữ giới. Tùy Thư chép: "Người đánh khai mạc chiếc trống mới đúc bao giờ cũng là người con gái".   (13)

Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực  (14), nhưng các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp mà là các bà mẹ đáng kính. Thí dụ:

Tam phủ là ba vị nữ thần: Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp. Về sau do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công và Hà Bá. Thần mặt trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng.

Tứ phủ là danh từ để chỉ bốn bà thần Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp.

Ấy cũng tại bà Âu Cơ đẻ một lúc ra một trăm con trai, nên mới có nạn trai thừa gái thiếu và giá trị con trai rẻ như bèo:

Ba đồng một chục đàn ông,
Chị bỏ vào lồng, chị xách đi chơi.

Dưới chế độ mẫu hệ, người đàn bà cầm cân nẩy mực trong gia đình. Nhưng vào giữa đời các vua Hùng Vương, xã hội đã chuyển dần sang phụ hệ nhờ khám phá sức mạnh của trâu bò trong công việc cày bừa ruộng lúa. Chỉ có đàn ông mới đủ sức mạnh điều khiển cày bừa và ai chủ động trong nông nghiệp thì người đó có quyền lực. Dù vậy, hình ảnh Mẹ Âu Cơ vẫn còn rất mạnh mẽ trong gia đình. Nói cách khác, uy quyền của các bà mẹ trong gia đình lúc nào cũng rất mạnh và căn bệnh "sợ vợ" của đàn ông là chứng bệnh nan y di truyền cả ngàn năm mà vẫn dễ thương không ai muốn chữa trị.

Sau phụ hệ đến tục đa thê (một chồng nhiều vợ), đôi khi có tục đa phu (một vợ nhiều chồng), rồi đến luật một vợ một chồng nhưng cho tự do ly dị hoặc một vợ một chồng và cấm luôn ly dị. Đây là một chu kỳ mà con người tùy thời đại sẽ chọn lựa để làm ra luật cho mình, vì mỗi định chế đều có cái hay cái dở riêng của nó. Nhìn lại quá khứ, có những chuyện rất đáng chú ý, chẳng hạn vua Minh Mạng có đến 142 con, đời sống tình dục của ông được các cụ mô tả là "nhất dạ ngũ giao, tam hữu dựng" (trong một đêm ngủ với năm bà thì ba bà có thai). Còn Minh Mạng thực sự có bao nhiêu vợ thì không đếm được, chỉ chắc một điều là nhiều lắm.
Nhiều gia đình các bà vợ ở chung một nhà với chồng rất trật tự hạnh phúc, nhưng cũng có nhiều bà không chịu cái kiếp lấy chồng chung:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không

Tuy vậy, dù ở trong chế độ nào, "tình nghĩa vợ chồng Việt Nam vẫn đầm ấm thân thương, xem người phối ngẫu là nơi trú ngụ che chở lẫn nhau, nên vợ chồng đều dùng chữ "nhà tôi" khi nói về người bạn đời. Tình yêu thương chồng vợ còn thể hiện qua cách xưng hô thân mật, xem người yêu như chính bản thân mình, nên thường gọi nhau là "Mình, Mình ơi!"   (15)

Bốn câu ca dao mà bất cứ đứa trẻ Việt Nam nào cũng được học thuộc lòng ngay từ lúc bập bẹ tập nói:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng THỜ MẸ, KÍNH CHA,
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.

Nhưng mấy ai để ý đến bốn chữ rất quan trọng đã làm lệch cán cân địa vị cha và mẹ trong gia đình. Đó là hai cụm từ "thờ mẹ""kính cha".

Trong đạo Công Giáo, chữ thờ (worship) chỉ dùng đặc biệt cho Thiên Chúa. Còn các thánh khác, kể cả Đức Mẹ Maria, chỉ được kính (respect) mà thôi.

Khi chúng ta tôn thờ Thiên Chúa, tức là bao gồm cả sự tôn kính. Nhưng khi chúng ta tôn kính một người nào thì không có nghĩa là tôn thờ người đó.

Vậy mà câu ca dao dạy chúng ta rằng: đối với mẹ, phải thờ; đối với cha, chỉ kính thôi! Thảo nào mà đa số các tác phẩm văn chương và ca nhạc toàn là ca tụng mẹ, còn đối với cha thì thưa thớt, đếm trên đầu ngón tay. Trong gia đình, khi cha mẹ cãi nhau, con cái toàn bênh mẹ. Khi ly dị, bao nhiêu tội lỗi cứ đầu cha mà đổ.
Đành rằng có thể vì vần điệu của thơ lục bát, nên phải dùng cụm từ "thờ mẹ, kính cha" mà không thể đổi thành "kính mẹ, thờ cha" được, nhưng Đốc Gàn đề nghị sửa lại: "Một lòng thờ kính mẹ cha" thì công bằng và trọn nghĩa hơn.

Giáo sư Triết học Trần Văn Đoàn đã chủ trương rằng nguyên lý mẫu tính Việt Nam gồm 4 yếu tính: sinh, dưỡng, dục và lạc.

Chữ MẸ trước hết tượng trưng cho sự sinh sản. Chính vì thế mà tất cả những sự vật, nhân vật, hay thần thánh quan trọng nhất đều có một công năng chung, đó là công năng sinh sản. Sự tích Lạc Long Quân - Âu Cơ đẻ trăm trứng, tạo nên cả giòng Lạc Việt, nói lên ý nghĩa của sinh sản. Họ chấp nhận tục lệ vợ bé. Vợ cả tìm vợ bé cho chồng, trong trường hợp vợ cả không con nối dõi tông đường, hay người chồng có quyền rẫy vợ trong trường hợp hiếm muộn (Luật Gia Long). Sinh cũng đồng nghĩa với trường sinh, nối dài cuộc sống, giữ gìn cuộc sống, và phát triển cuộc sống. Trong một tâm tình như vậy, người Việt thường đồng hóa người MẸ với gia đình, với tổ quốc, với đất đai, với nước, với sông, với vườn, với ao, với nhà, v.v... Những kiểu nói quê mẹ, đất mẹ, nước mẹ, nhà mẹ hay những sự vật lớn phát sinh, "đẻ" ra các sự vật khác cũng được gọi là "cái", hay "mẹ": sông cái, đường cái, v.v... đều chỉ ra nguyên lý sinh, hay mẫu tính này.

Người Việt không thể tách rời sinh khỏi dưỡng. Nhiều khi họ đồng nghĩa sinh với dưỡng, thí dụ như câu nói "Cha sinh mẹ dưỡng". Thế nên, dưỡng nói lên tính chất của bao bọc, che chở và dìu dắt.

Tại Việt Nam, giáo dục là một phần của công việc thành nhân, nên nó quan trọng không kém sinh và dưỡng. Nơi đây ta nhận ra lối nhìn Việt đối với mẹ. Người con có thành nhân, thành tài hay không đều do người mẹ cả:

Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

Sau hết, người mẹ được coi như cái nôi, cái nguồn của lạc thú. Nàng là thú vui của gia đình. Nàng không đi tìm lạc thú cho mình, nhưng cho chồng, cho con, và cho gia tộc, hoặc rộng hơn, cho tổ quốc.  (16)

Mẹ của Đốc Gàn là một bà mẹ quê - rất quê - Việt Nam, áo vải nâu sồng:

Mẹ Việt Nam, không son không phấn,
Mẹ Việt Nam, chân lấm tay bùn.
Mẹ Việt Nam, không mang nhung gấm
Mẹ Việt Nam, mang tấm nâu sồng.
      ("Trường Ca Mẹ Việt Nam"
            Nhạc sĩ Phạm Duy)

Bà Mẹ quê mùa ấy,

Đêm sớm không nề hà chi
Ngày tháng không ao ước gì
Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui.
(Phạm Duy, bài hát "Bà Mẹ Quê")

Khi Đốc Gàn được 9 tháng thì bố đăng lính viễn chinh Pháp. Ông đưa vợ con lên tỉnh Nam Định chụp bức hình kỷ niệm chia tay, rồi vác ba lô lên đường, theo đuổi mộng đời trai. Buổi biệt ly hôm ấy diễn ra tại bến đò Quan trên sông Nam Định. Chàng thanh niên 21 tuổi bước lên tàu sang Pháp, bỏ lại người vợ trẻ quê mùa 19 tuổi và đứa con trai đầu lòng mới biết ngồi.

 
                      Con biết ngồi thì bổ bỏ đi xa...

Tiếng còi tàu như xé nát cõi lòng kẻ ở lẫn người đi. Lúc con tàu tách bến, người mẹ đứng ôm con trên bờ, nước mắt giàn dụa ngóng theo con tàu mỗi lúc một nhỏ dần. Người ra đi bỏ lại đằng sau cảnh vợ dại con thơ với một tương lai không bờ không bến. Mẹ con âm thầm cô đơn bồng bế nhau trở về làng Nam Ninh, sống nuôi nhau bằng nghề dệt vải. Thời đó, thanh niên trong làng chỉ sống bằng nghề nông, cày sâu cuốc bẫm, còn thiếu nữ thì hầu hết làm nghề dệt vải. Thanh niên nào được tuyển đi lính Pháp là một vinh dự. Cả làng của Đốc chỉ có hai người được chọn: Ông Quản Tuyên và bố của Đốc Gàn.

Chàng ơi, phải lính thì đi,
Cửa nhà đơn chiếc đã thì có em

hoặc: 

Anh ơi phải lính thì đi
Con còn măng dại đã thì có em.

Làng Nam Ninh, tỉnh Nam Định của Đốc Gàn lúc đó chưa có trường học. Hầu hết trẻ em trong làng đều mù chữ. Cậu bé Đốc Gàn mỗi buổi sáng cắp sách sang nhà bên cạnh học chữ với người chú họ, tên Vụ, con trai lớn của ông Đội Tuyên. Chú chỉ dạy Đốc Gàn và cô em gái thôi. Tuy cô lớn hơn cháu mấy tuổi, nhưng lại học dở hơn cháu. Cô còn cậy lớn, có anh làm thày giáo nên được thể bắt nạt cháu. Thằng cháu cũng đâu phải tay vừa. Nó có cả trăm cách để trả thù cô. Mỗi lần "thua" cháu, cô khóc mếu máo sang mách mẹ Đốc Gàn, nhưng cô lầm to! Mẹ chỉ cười khì, vì cảnh một mẹ một con, mẹ thương con như cục vàng, làm sao mà mẹ đánh con cho cô hả dạ được. Và cứ như vậy, cô cháu cãi nhau hàng ngày. Đến khi hai người đầu bạc răng long rồi mà mỗi lần gặp nhau, bà cô vẫn còn ấm ức khiếu nại mãi về câu chuyện này. Đi học tới trưa về nhà, cậu bé Đốc Gàn có bổn phận phải thổi cơm, nấu nước, rửa bát và quay suốt cho mẹ dệt vải.

Người ta dệt vải trên khung cửi. Các sợi chỉ theo chiều dọc của tấm vải được mắc sẵn trên khung cửi. Còn các sợi chỉ ngang của tấm vải được quay vào các con suốt nhỏ, rồi bỏ vào trong con thoi. Công việc của người dệt vải là phải ném con thoi từ phải qua trái, rồi từ trái qua phải theo nhịp hai chân đạp đều đặn để các sợi ngang được đan vào các sợi chỉ dọc.

 
               Dệt vải 
 
                              Dệt vải 
 
                                   
   Quay suốt   (Hình: Nguyễn Tấn Lộc sưu tầm)

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã diễn tả động tác này trong bài thơ "Dệt cửi" rất dí dỏm:

Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.

Mẹ thầy Mạnh Tử xưa kia cũng làm nghề dệt vải. Chuyện kể rằng: Một hôm Mạnh Tử đang đi học bỏ về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, nói rằng:

- Con đang đi học mà bỏ học, thì cũng như mẹ đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi vậy.

Từ hôm đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần, về sau thành một bậc đại hiền. Thế là chẳng nhờ chiếc khung cửi làm đề tài giáo dục quý báu cho bà mẹ dạy con hay sao?  (17)

Và cũng từ cái khung cửi này, người đời còn truyền tụng một câu chuyện giáo dục rất hay nói về hậu quả của những lời đồn đại lúc đầu chỉ là một tin thất thiệt, nhưng nghe mãi rồi người ta cũng tưởng là sự thực. Đó là xảo thuật trong việc tuyên truyền:

Thầy Tăng Sâm là một hiền nhân, học trò của đức Khổng Tử.  Một hôm, thầy vào rừng kiếm củi, bà mẹ ở nhà dệt cửi.  Có người đến nhà bảo:

- Tăng Sâm giết người rồi.

Bà mẹ điềm nhiên dệt cửi vì bà rất rõ con mình:

- Làm gì có chuyện đó được.

Lát sau, lại có người đến báo tin dữ.  Bà mẹ vẫn ngồi dệt cửi, lòng không lay động.  Ðến lúc nhận được tin lần thứ ba, bà quăng thoi, hớt hải đi tìm con… và khám phá ra kẻ sát nhân chỉ trùng tên với con mình.   (18)

Chú thích:

(13)    "Cội Nguồn Việt Tộc", sđd., tr. 76

(14)    Phồn: nhiều, thực: nảy nở. Xin xem "Tín Ngưỡng Phồn Thực", chương 4 của sách này.

(15)    "Cội Nguồn Việt Tộc", sđd., tr. 79

(16)   Trần Văn Đoàn, Bài khảo luận "Mẫu Tính Trong Văn Hóa Việt",  Web. simonhoadalat.com

(17)    Liệt Nữ truyện

(18)  Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhàn, "Cổ Học Tinh
     Hoa", Quyển 1, tr. 21

Việt (2)

Thôi thì chúng ta cứ nhận huyền sử Tiên Rồng cho vui. Vậy qua huyền thoại này, cổ nhân muốn nhắn gửi con cháu những triết lý nào?

Trước hết, Tiên được quan niệm là siêu nhân sống trên cao, xinh đẹp, hiền từ, thanh thoát và bất tử. Còn Rồng thì được coi là chủ tể của biển cả, làm mưa làm gió, thiên biến vạn hóa. Rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp: tổng hợp của cá sấu và rắn, sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trời mà không cần cánh, có thể vừa phun nước vừa phun lửa. Rất nhiều địa danh Việt Nam mang tên liên quan đến Rồng, như Thăng Long, Hàm Rồng... Qua biểu tượng Tiên Rồng, cổ nhân muốn dạy chúng ta rằng người Việt Nam là một kết hợp vừa biến hóa vừa trường cửu, vừa vật chất vừa siêu phàm, vừa linh ẩn vừa thượng hằng, vừa xinh đẹp dịu hiền vừa hùng dũng cương quyết, vừa chan chứa yêu thương, vừa uy lực vô song, vừa có tình vừa hợp lý. Do đó, mỗi người dân Việt Nam luôn luôn phải biết hãnh diện về nguồn cội của mình:

 "Trứng Rồng lại nở ra Rồng
Chim Tiên lại đẻ ra dòng chim Tiên"
       (Linh mục Trần Cao Tường)

Thứ hai, Mẹ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi là Âm,  Cha Lạc Long dẫn 50 con xuống biển là Dương. Đây là nguồn cội của triết thuyết Âm Dương, thể hiện nghĩa tương sinh, tương khắc trong Kinh Dịch. Chính nguyên lý Âm Dương đang điều hành vũ trụ và cuộc sống mọi loài trên trái đất này. Dân tộc Việt Nam sinh sống bằng nghề nông nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nam và nữ; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương.  (5)

Các nhà viết huyền sử quên mất những đứa con không biết là âm hay là dương hoặc những đứa con thích người cùng phái tính. Dương đụng với dương, âm đụng với âm, tất cả chẳng sinh sản ra được cái giống gì cả, tuy nhiên, đây vẫn là đề tài sẽ làm nhức nhối xã hội loài người mà huyền sử Tiên Rồng không đề cập tới.

Thứ ba, sự kiện Mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng mang ý nghĩa gì? Loài người không đẻ ra trứng, chỉ có loài chim mới đẻ trứng. Tổ Tiên Việt Nam đã theo dấu chim Hồng để mở nước và dựng nước, nên chọn Chim là vật tổ, tự thân hai chữ Hồng Bàng. Hồng là ngỗng trời, là chim thiên nga, đại diện cho sự trong trắng tinh tuyền, mang ý nghĩa nuôi chí lớn tung hoành khắp tứ phương. Bàng là rồng, chỉ những chân lý thâm sâu như đáy bể, phát xuất từ cõi tiềm thức u linh.  (6)

 

   
  Trống Đồng Việt Nam   Mặt Trồng Đồng Ngọc Lũ 
   
   
Những nét vẽ trên mặt trống Đồng  (phóng lớn)   

Hình ảnh chim được khắc họa trên mặt trống đồng với mỏ dài của loài chim nước. Theo linh mục triết gia Kim Định thì chim nước của Việt tộc thể hiện nguyên lý Âm Dương Giao Chỉ, vì nó vừa bay lên trời, vừa xuống dưới nước. Chi tộc Việt tôn thờ chim Hồng, biểu trưng của văn minh nông nghiệp, cùng với chi Lạc trong cộng đồng Bách Việt nên chúng ta vẫn tự hào là giòng giống Lạc Hồng (Lạc Âu).  (7)

"Trống đồng là bảo vật của các Lạc vương, dùng vào những dịp quan trọng trong đời sống của triều đình, như chiến tranh dựng nước giữ nước, thắng quân xâm lược, cầu cho mưa thuận gió hòa, trong dân gian, nhân dịp các lễ lớn trong cuộc đời, sanh con, đám cưới, đám tang, mỗi năm khi mùa xuân trở lại."  (8)

Nương nhau cặp trống Rồng Tiên
Khi gầm thét sấm, khi rầm rỉ mưa
Gieo dùi, trời ngẩn, đất ngơ
Quân thù rớt kiếm, rơi cờ bao phen.

(Bài thơ "Trống Đồng" của Hải Phương)

Triết thuyết Trống Đồng của dòng giống Lạc Hồng nghe thú vị biết bao, nhưng cái khốn khổ được bắt đầu khi Lạc Long Quân quyết định chia đôi đàn con, nửa theo cha về biển, nửa theo mẹ lên núi. Cảnh chia ly và chia rẽ bắt nguồn từ đó. Trước khi phân nát gia đình, Lạc Long Quân cũng đã nhìn thấy những khó khăn trước mắt cho vợ và 50 đứa con lên núi, nên mới dặn rằng, khi nào gặp khó khăn hoạn nạn thì cứ việc cầu cứu, phe cha sẽ đến giúp đỡ. Nhưng giúp xong thì cha mẹ vẫn không xum họp, ai nấy trở lại phần đất của mình. Cái tang thương là ở chỗ đó. Bởi vậy, con cháu Tiên Rồng bình thường là chia rẽ, đoàn kết chỉ là ngoại lệ. Khi gặp hoạn nạn, bị đô hộ, bị đàn áp thì con dân Việt Nam hết mực đoàn kết để chống trả kẻ thù, nhưng xong chuyện rồi thì lại trở về tình trạng phân rẽ.

Đọc lại lịch sử Việt Nam hoặc nhìn vào các cộng đoàn Việt Nam, nét nổi bật nhất vẫn là cảnh huynh đệ huých tường, chia rẽ đến độ tan nát, vỡ ra trăm mảnh. Hội đoàn mọc lên như nấm. Lúc đầu, hội nào cũng đoàn kết vui vẻ, gặp nhau tay bắt mặt mừng. Đến sau, hội nào cũng chia đôi, cãi vã, không thèm nhìn mặt nhau, đến nỗi coi nhau như kẻ thù truyền kiếp.

Chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh không phải chỉ để giải thích một cách tiêu cực cảnh lụt lội hàng năm mà dân chúng Việt Nam phải chịu, nhưng là một lối diễn tả trung thực và đau lòng nhất về cảnh anh em trong nhà thường xuyên nổi giận sát phạt nhau, khiến cho cả đất nước phải tan hoang khổ cực.

Hỏi rằng kể từ ngày Hùng Vương lập nước đến nay, có được bao nhiêu thế hệ sống và chết an bình, hay chỉ là những cái chết nhục nhằn thao thức về đất nước bị ngoại xâm đô hộ, bị thực dân cai trị, hoặc vì anh em trong nhà chém giết nhau do toan tính và thủ đoạn của ngoại bang?

Việc thống nhất Nam Bắc bằng vũ lực với cái chết của hàng triệu đồng bào ruột thịt vào năm 1975 đã là một biến cố thật đáng buồn. Trong khi đó nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đánh đuổi ngoại bang và thống nhất đất nước trong khung cảnh hòa bình, đượm tình anh em một nhà. Chưa hết. Sau ngày thống nhất Việt Nam, các nhà tù man rợ mang danh là Trại Cải Tạo được dựng lên để trả thù các anh em thất trận. Thực tế, không ai bị cải tạo và cũng không ai cải tạo được ai. Có chăng chỉ là tạo lòng uất hận, căm thù ngút ngàn giữa anh em cùng một bào thai. Biết bao nhiêu cựu tù cải tạo khi nhắm mắt lìa đời vẫn đem theo cả một hành trang hận thù chưa trả để mang về kiếp sau. Hận thù ai? - Việt Cộng, người anh em cùng mang giòng máu Lạc Hồng.

Trong một đại nhạc hội có cả ngàn ngàn người Việt Nam tham dự, một danh hề nói rằng:

Không uống bia, không là người Mễ,
Không đi trễ, không là Việt Nam.

Các thính giả cười hả hê thoải mái. Danh hề tiếp luôn:

Làm khỏe như Mễ
Chia rẽ như Việt Nam.

Mọi người lại cười, cười to hơn lần trước. Đốc Gàn quay sang hỏi người bên cạnh:

- Tại sao cười?

- Vì nó đúng quá sức!

Đốc cảm thấy hụt hẫng. Chia rẽ là một căn bệnh trầm kha của người Việt thì tại sao họ không đặt thành vấn đề để sửa chữa mà lại chấp nhận thực tế như một trò cười?

Bao giờ mới chấm đứt được những vần thơ, những câu vè vô ý thức, nhằm chia rẽ, nhục mạ đồng bào ruột thịt như những câu thơ sau đây.

Chung quy cũng tại Vua Hùng,
Sinh ra đứa tỉnh, đứa khùng, đứa điên.
Đứa tỉnh thì đã vượt biên,
Những đứa kẹt lại không điên, cũng khùng.

Chắc gì những người bỏ nước ra đi đã là tỉnh? Chắc gì những người ở lại đã là điên, là khùng? Mong rằng những ý nghĩ phá hoại như trên cần được chấm dứt để tái lập một trang sử Con Rồng Cháu Tiên Đoàn Kết mới cho các thế hệ mai sau.

Thứ tư, những đứa con được sinh ra trong cùng một bọc trứng, một bào thai ấy được gọi nhau bằng một từ ngữ rất thân thương, rất đúng với huyền sử, đó là "đồng bào":

Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào hai tiếng vô cùng Việt Nam.

 Chữ "đồng bào" gói ghém tình thương yêu của anh em cùng chung một máu huyết. Chữ "đồng bào" còn biểu trưng ý niệm bình đẳng, không phân biệt phái tính hay giàu nghèo. Ý niệm "đồng bào" còn cổ võ một cộng đồng Bách Việt luôn đặt quyền lợi tập thể trên quyền lợi cá nhân, việc nước trước việc nhà.

Trong bài khảo luận "Miếng Trầu Quê Mẹ", nhà văn kiêm thi sĩ Trần Quốc Bảo đã phân tích tỉ mỉ về tâm tình của con người Việt Nam như sau:

"Xã hội Việt Nam được xây dựng trên một chữ TÌNH.

"Một xã hội "chín bỏ làm mười", "chục mười hai", "chục mười bốn"... là một xã hội đặc biệt và lạ lùng nhất trong các tổ chức xã hội của loài người. Người trong một nước coi nhau như anh em cùng một bào thai, nên chi lấy tình lấy nghĩa làm trọng - "vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy". - Bà con làng xóm sống với nhau "trọng nghĩa khinh tài" tạo nên cái tình "nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng". Cái luân lý vị tha bác ái của người Việt sánh ngang được như một tôn giáo "ai nhất thì tôi thứ nhì, ai mà nhì nữa tôi thì thứ ba". Lòng người tràn đầy yêu thương, hiền hòa, không màng sự tranh cướp, thù hận, "tranh quyền cướp nước chi đây, coi nhau như bát nước đầy là hơn".

"Trong cái môi trường tuyệt vời tình nghĩa như vậy ta không ngạc nhiên thấy "phép vua thua lệ làng", vì lệ làng tạo nên bởi tình nghĩa. Tình nghĩa quý hơn cả vàng bạc "Tham vàng bỏ ngãi anh ơi, Vàng thì ăn hết ngãi tôi vẫn còn". Ta cũng không ngạc nhiên khi người Việt coi "nhân bản" là trọng, quý nhau ở tấm lòng, lúc nào cũng muốn làm tốt làm đẹp cho tha nhân dù một cử chỉ, một lời nói: "Lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau".

Lý thuyết thì đẹp đẽ như vậy, nhưng thực tế, cảnh huynh đệ tương tàn thật trầm trọng, bi đát. Cũng chỉ vì bà Âu Cơ sinh một trăm đứa con trai cùng một lúc, chẳng biết ai là anh, ai là em, nên tất cả đều xưng mình là anh cả, anh hai. Một trăm con là một trăm ông Vua, lập ra một trăm quốc gia và được gọi là "Bách Việt". Tâm lý chung của người dân Việt Nam là muốn hơn người và không muốn ai hơn mình.

Chuyện vui của đồng bào Việt tỵ nạn kể rằng có hai anh chàng Mỹ và Việt ngồi câu cua tại một khúc cầu trên cùng một giòng sông. Hai người cùng trúng mối. Nhắc cần lên là cua bám tứ bề. Hai chàng đều có những điểm giống nhau: cùng tự tin, tương đắc, cùng câu được một loại cua mập và số lượng như nhau. Nhưng chỉ có một điều khác biệt là chiếc giỏ cua của người Mỹ phải có nắp kín buộc chặt, vì đàn cua đua nhau bò lên. Còn giỏ cua của người Việt thì mở nắp toang hoang mà chẳng thấy con cua nào nhúc nhích bò lên cả.

Chàng câu cua người Mỹ thắc mắc hỏi anh bạn Việt:

- Sao kỳ vậy, cha nội. Cùng một loại cua bắt lên mà khi tôi bỏ vào giỏ của tôi thì cua tôi bò lổm ngổm tìm đường đi lên. Còn cua trong giỏ của bạn thì nằm êm rơ như vậy?

Chàng câu cua người Việt cười gật gượng:

- Dễ hiểu thôi! Cua Việt dù sống trong cảnh "cá chậu chim lồng" cũng vẫn còn óc ganh tị, không muốn con nào hơn mình cả, nên con dưới kẹp chặt con trên, chẳng con nào ngóc đầu lên được. Đồng bào Việt chúng tôi có thói bôi lọ, phá nhau, chụp nón cối cho bất cứ ai hơn mình, nên chẳng ai ngóc đầu lên được.

***
                                       
Trước đây, các tài liệu khảo cổ đã đặt giả thuyết người Việt Nam xuất xứ từ một nhóm người ở phương Bắc xuống hoặc từ Thái Bình Dương đi vào, nhưng với phát minh vĩ đại của di truyền học DNA (Deoxyribo Nucleic Acid) bắt đầu thành hình vào năm 1665, việc nghiên cứu cội nguồn con người đã bước sang một ngã rẽ rất quan trọng.

Tại Trung Hoa, nhà bác học J.Y. Chu cùng với 13 đồng nghiệp của ông đã công bố kết quả cuộc nghiên cứu về nguồn gốc người Trung Hoa căn cứ vào các kỹ thuật về Di truyền học, mang tên "Genetic Relationship of Pupulation in China" đã khẳng định rằng nguồn gốc của người Trung Hoa là do giống người ở Đông Nam  Á di lên. (9)  Như vậy thì giả thuyết người Việt Nam xuất xứ từ Trung Hoa là đáng bị bác bỏ rồi.

Trong bài biên khảo "Nhờ tiến bộ của Di Truyền học (DNA), phải chăng đã đến lúc chúng ta có thể khẳng định được nguồn gốc dân tộc Việt Nam?", giáo sư Cung Đình Thanh viết: 

"Căn cứ vào kết quả của Hội nghị Berkeley 1978 nghiên cứu về nguồn gốc văn minh Trung Hoa, căn cứ vào những phát minh khoa học mới nhất về khảo cổ học, nhân chủng học, di truyền học (DNA), ngôn ngữ học, cả những sưu tầm về phong tục tập quán ở phần đất nay thuộc hai quốc gia khác nhau, người viết chứng minh được rằng: khảo cổ học, nhân chủng  học, ngôn ngữ học, huyết thống di truyền học, cả về phong tục tập quán, đều chứng tỏ Đại Tộc Bách Việt đã có trước, cũng đã cư ngụ tại phần đất nay là đất nước Trung Hoa, ít nhất từ phía nam sông Hoàng, trước Hán tộc.  Và văn minh Bách Việt, căn bản là văn minh định cư trồng lúa nước, cũng đã có trước văn minh Hoa Hán, thuộc văn minh săn bắn và trồng lúa tắc, lúa khô".

Giáo sư Cung Đình Thanh kết luận: "Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) trở thành cái nôi người da vàng cổ nhất của nhân loại tại phần đất không những ở Đông Nam Á mà ở cả toàn cõi Châu Á vậy".  (10)

Ông Trần Trung Lương, tức nhà văn Trà Lũ đã dùng giác quan thứ sáu để hô hoán lên rằng thổ dân Da Đỏ ở Canada đúng là con cháu bà Âu Cơ. Giả thuyết của ông đặt căn bản trên nhiều bằng chứng nghe rất tới. Ông viết: "Huyền sử của Nga của Tàu đều ghi chuyện tiến về phương Nam. Chỉ có huyền sử Việt Nam ghi việc con cái mẹ Âu Cơ tiến lên núi, tức phương Bắc. Tiến lên tận cùng thì gặp Bắc Cực. Ngang đó là eo biển Bering. Một số con của Mẹ Âu Cơ đã theo eo biển Bering. lúc đó bờ biển còn cạn, tiến sang địa đầu Mỹ Châu, rồi đi xuống và đã gặp miền đất bây giờ là Canada. Đàn con của Mẹ Âu Cơ lúc đó mang tên Inuit, tức tổ phụ người Da Đỏ bây giờ."  (11)

Theo ông Trà Lũ, người Da Đỏ có rất nhiều điểm giống người Việt Nam, chẳng hạn: gọi là Da Đỏ, nhưng thực sự họ là người da vàng. Cặp mắt họ giống y hệt mắt Việt Nam. Thổ ngữ "Kanata" chuyển âm thành "Canada" nghĩa là "cái nhà ta". Chính quyền Canada khi lập một khu mới đặt tên bằng thổ ngữ là "Nunavut", âm thanh đúng là "nu na nu nống", bài hát của trẻ con Việt Nam. Thành phố "Toronto", nơi có 80 ngàn dân Việt di cư đã được dịch ra là "Tổ Rồng Tiên". Nghe cũng êm tai lắm đấy chứ! Rồi mấy bài hát của thổ dân nghe "ý a ỳ a" độc giọng quan họ Bắc Ninh của ta. Đến cái mũ lông chim của thổ dân Canada cũng giống hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ của Việt Nam.

Nhà văn Trà Lũ kể rằng theo sử Canada thì người Da Đỏ đã có mặt ở nơi này cách đây ít nhất 24 ngàn năm. Vậy tổ tiên Việt Nam có từ bao giờ? May mắn ông kiếm được bài thuyết trình của nhà khảo cổ người Đức, học giả Wilhelm Gerhard Solheim II, đã trình bày tại Hội Nghị Khoa Học Thái Bình Dương tổ chức tại Tokyo mùa hè năm 1966. Ông Solheim kết luận rằng: "Cách đây chừng 30 ngàn năm đã có một bộ lạc tiền sử sinh sống tại địa bàn Hoà Bình, Bắc Việt Nam. Đây là nền văn minh đầu tiên của nhân loại."   (12)

Nếu đúng như vậy thì cũng mừng cho đồng bào Việt tỵ nạn ở Canada từ nay đỡ được mặc cảm ăn nhờ ở đậu, vì ít ra họ cũng chỉ bỏ cái nhà Tổ ở Việt Nam để về "Cái Nhà Ta" Canada mà thôi!

Chú thích:

   (5)  Trích Tự Điển Wikipedia
   (6)  Bài khảo luận "Tiên Rồng" của linh  mục triết gia Kim Định
   (7)  "Cội Nguồn Việt Tộc", sđd., tr. 73
   (8)  Bài khảo luận "Trống Đồng Việt Nam" của Trần Văn Khê
   (9)  Bản bá cáo này đăng trong Tạp chí Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia của Hoa Kỳ (The Nation Academy of Sciences - USA - Vol.95, issue 20, 1763-1768, 29 tháng 7, 1998).
   (10)  Bài khảo cứu trích từ http://tutuong.hypermart.net/html
              %20files/nguon%20goc%20dan%20toc%20vietnam.htm   
   (11) Trà Lũ, "Đất Anh Em", Hoa Lư 2003, tr. 46
   (12) "Đất Anh Em", sđd. tr. 118

Việt (1)

"Mẹ Việt Nam không son không phấn,
  Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn."

      (Nhạc sĩ Phạm Duy)


 
 Con Rồng cháu Tiên (Hình trích từ sách "Việt Sử Bằng Tranh" 
             của Trần Việt Nam, Cửu Long Giang và Vi Vi,
                       Nhà Xuất Bản Việt Long 2000

Đốc Gàn được sinh ra mang dòng máu Việt Nam. Chỉ hai tuần lễ sau khi sinh, cha mẹ đem con đến nhà thờ chịu phép Rửa Tội để trở thành người Công Giáo. Vì vậy, ngay từ trứng nước, Đốc Gàn đã là người Công Giáo Việt Nam. Về đạo giáo, Đốc hấp thụ đức tin và nền giáo dục Công Giáo. Về tinh thần và thể xác, Đốc mang thân phận người Việt Nam, thuộc dòng giống Lạc Hồng.

Theo truyền thuyết thì vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, nhân đi xuống phương Nam, tới núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam, ngày nay thuộc nước Tàu) thì gặp một nàng Tiên, lấy nhau đẻ ra Lộc Tục. Về sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi  làm vua phương Bắc và Lộc Tục làm vua phương Nam. Đế Nghi sau truyền ngôi cho con là Đế Lai.

Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.

Lộc Tục lên ngôi vua vào năm Nhâm Tuất 2879 trước Công Nguyên, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Vua Kinh Dương Vương kết hôn với Long Nữ sinh ra Sùng Lãm. Khi Sùng Lãm lên ngôi, lấy hiệu Lạc Long Quân và kết hôn với Âu Cơ là con gái của Đế Lai (có sách nói là vợ Đế Lai) rồi sinh một bọc trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm người con trai là tổ tiên người Bách Việt. Ít lâu sau, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta thuộc dòng dõi Rồng, nàng thuộc dòng dõi Tiên, ở mãi với nhau không được, vậy nàng mang 50 con lên núi, còn ta đem 50 con xuống biển Nam Hải".  (1)

Nhiều sách sử đã viết nguồn gốc Tiên Rồng của dân Việt như vậy. Nhưng nếu đọc kỹ lại thì câu chuyện huyền sử này có thể bị tam sao thất bản mà mất đi nguồn gốc Tiên rồi. Thực vậy, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta thuộc dòng dõi Rồng, nàng thuộc dòng dõi Tiên". Nhưng Âu Cơ đâu có phải dòng dõi Tiên! Âu Cơ là con của Đế Lai. Đế Lai là con của Đế Nghi và Đế Nghi là con truởng của Đế Minh. Sử sách không nói mẹ của Đế Nghi là ai, nhưng chắc một điều không phải là nàng Tiên vì Đế Minh ăn ở với nàng Tiên chỉ sinh hạ được Lộc Tục mà thôi. Còn Đế Nghi chỉ là anh cùng cha khác mẹ của Lộc Tục. Lộc Tục lấy Long Nữ, dòng giống Rồng, đẻ ra Lạc Long Quân. Như vậy Lạc Long Quân mang ba dòng máu: NGƯỜI của ông nội là Đế Minh, TIÊN của bà nội là nàng Tiên và RỒNG của mẹ là Long Nữ.

Còn Âu Cơ không thuộc dòng dõi Tiên, vì Đế Minh, Đế Nghi và Đế Lai đều mang dòng máu NGƯỜI. Rất có thể vì Lạc Long Quân không muốn sống chung với Âu Cơ nữa nên mới gán cho nàng thuộc dòng giống Tiên để lấy cớ Rồng không hợp Tiên mà quyết định ly dị và chia con mà thôi.

Thành ra, con cháu Việt Nam chỉ thừa hưởng ba dòng máu NGƯỜI, TIÊNRỒNG của cha, còn mẹ là NGƯỜI chứ không phải Tiên, nên có nhiều đứa giỏi thì cũng giỏi dữ, mà phá thì cũng phá khiếp. Điển hình là mới chỉ có hai triệu cháu con Rồng Tiên tản mát khắp thế giới từ năm 1975, mà 30 năm sau, các địa vị danh giá trong mọi lãnh vực chính trị, văn hoá, xã hội của các quốc gia trên thế giới đều có tên người Việt Nam. Thật rất đáng hãnh diện! Nhưng các danh sách băng đảng tội phạm, cướp của, hiếp dâm, bạch phiến cũng đã có tên con cháu Lạc Hồng. Bởi thế, nhiều người xấu hổ cúi mặt, không còn dám tự hào nhận mình là Việt Nam nữa, vì nơi nào có Việt Nam thì nơi đó mất trật tự, chẳng hạn người Việt Nam tụ họp với nhau thì không biết xếp hàng, nhưng khi đứng chung với người ngoại quốc thì lại hàng lối rất trật tự. Thuê một người Việt Nam giữ trật tự cho người Việt Nam thì vẫn vô trật tự, nhưng có một người ngoại quốc giữ trật tự cho người Việt Nam thì lại rất trật tự. Thế nghĩa là sao? Là vì trong đám người Việt, có người là Tiên, có kẻ là Rồng mà cũng có kẻ là Người, mang tính nết dở hơi.

Lạc Long Quân phong cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Địa giới gồm Bắc Việt và các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Vua quan theo lệ cha truyền con nối. Các vua lấy hiệu Hùng, đóng đô ở Phong Châu, nay thuộc Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên. Họ Hùng truyền đời được 18 vị vua, đến năm Quí Mão (158 trước Tây Lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.

Hiện nay tại tỉnh Phú Thọ có đền thờ các vua Hùng. Ngày giỗ hàng năm là mồng 10 tháng 3 Âm lịch.  (2)

Thời đại Hùng Vương có hai truyền thuyết được loan truyền trong dân gian. Đó là Phù Đổng Thiên Vương và Sơn Tinh - Thủy Tinh.

Phù Đổng Thiên Vương: Đời Hùng Vương thứ sáu, có đám giặc Ân hùng mạnh lắm không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giáng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vưon vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.

Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương. Hiện nay có đền thờ ở làng Gióng, tức là làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng 8 tháng Tư cũng có hội rất vui, tục gọi là hội Đức Thánh Gióng.

Mục đích câu chuyện này là để cho các quốc gia khác biết rằng nước Văn Lang được thần thánh che chở, bảo vệ, nên không dễ dàng để xâm lăng hoặc đô hộ.

Truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh: Vua Hùng Vương thứ 18 có người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho người ấy. Ngày hôm sau, Sơn Tinh đến trước lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh Sơn Tây).

Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Sơn Tinh ở trên núi không việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu thì Sơn Tinh làm núi cao lên bây nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống. Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó, Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một lần, dân gian thật là cực khổ.

Sở dĩ có chuyện này vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng 6, tháng 7 cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy xuống tràn vào trong đồng áng, ngập tràn ruộng đất. Người ta không hiểu nguyên do nên mới tưởng tượng mà đặt ra câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh đánh nhau vậy.   (3)

Mãi đến thời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới đưa truyện Rồng Tiên vào trong "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư". Trong số các vua chúa cũng như các sử gia, có những người tin tưởng và tự hào về câu chuyện huyền sử trên, nhưng cũng có những người cho là chuyện thần thoại hoang đường, trong đó có Vua Tự Đức và sử gia Trần Trọng Kim.

Trên thế giới đã có bao nhiêu chuyện huyền thoại hoặc dã sử được dựng nên như Nữ Thần Sắc Dục Vénus, Thần Thương Mại Mercure, Thần Loạn Luân Ouranos, Thần tửu sắc Baccus, Thần Bắp Thịt Hercule. Mỗi khi con người gặp khốn khó, không thể giải quyết được bằng khả năng trí óc thông thường, người ta liền cầu cứu ngay tới thần linh hay ông Trời để giải thích.

Cuối thế kỷ 20, con người tạo ra những phim ảnh giả tưởng với những nhân vật siêu phàm như Super-man, Wonder Woman, Spiderman để đi khắp bốn phương cứu nhân độ thế. Những phim giả tưởng ăn khách nhất như Star Wars, Star Trek, King Kong với số thu phá kỷ lục hàng tỉ Mỹ Kim. Riêng cuốn Harry Potter đã xuất bản 600 triệu cuốn và được dịch ra gần 60 ngôn ngữ, chỉ thua có cuốn Kinh Thánh thôi.

Bởi vậy, so với nhiều chuyện huyền thoại của thế giới, chuyện Tiên Rồng của Việt Nam không phải là huyền hoặc, nhưng nó đã mang một ý nghĩa nhân bản truyền thống cao đẹp.

Ông Phạm Trần Anh nhận định:

"Bên cạnh các nguồn thư tịch cổ, chúng ta phải tìm về huyền sử dân tộc qua các huyền thoại, truyền thuyết nhân gian để hiểu rõ người xưa gửi gấm những ý nghĩ trung thực về một thời kỳ lịch sử nhưng được che dấu dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc của truyền thuyết.

"Đó chính là thần trí VIỆT, bức thông điệp ngàn xưa của tiền nhân đòi hỏi chúng ta phải giải mã, như triết gia Jung đã nói - truyền thuyết thần thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất. Huyền thoại Rồng Tiên của Việt tộc, với những nhân vật thần thoại Bố Rồng, Mẹ Tiên là những hình tượng nguyên sơ mang tính tâm linh, chính là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của thời đại tạo dựng độc sáng, chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý luận."  (4)

Chú thích:

   (1) Trần Trọng Kim, "Việt Nam Sử Lược", Nhà xuất bản Miền Nam, tr. 11
   (2)  Phạm Quân Khanh, "Lịch Sử Việt Nam", Web dunglac.net
   (3)  "Việt Nam Sử Lược", sđd., tr. 14-15
   (4)  Phạm Trần Anh, "Cội Nguồn Việt Tộc", Việt Nam 2004, tr. 44

Gàn (3)

Ngoài đặc tính ở dơ, ăn mắm tôm, uống nước trà, ăn trầu và hút thuốc lào, con người Đốc Gàn còn có một nét độc đáo khác. Đó là bộ RĂNG ĐEN.

    Năm quan mua lấy miệng cười
  Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen

         (Hình: Võ Thương An) 

  Thời xa xưa, ở Việt Nam, không có nghề nha sĩ, tức là nghề niềng răng, nhổ răng, chà sạch răng hay trét lỗ răng sâu. Một khi răng đã nhuộm đen rồi, tức răng được mặc áo giáp thì chẳng sợ vi trùng tấn công. Nhưng cái kẹt của Đốc là lớp keo nhuộm lâu ngày bị mòn, mà thợ nhuộm răng thời buổi này kiếm khó hơn là nha sĩ. Một hôm, Đốc đến phòng mạch của một nữ nha sĩ trẻ để nhờ coi sóc vài chiếc răng long. Cô nha sĩ này trông người nhỏ con, nhưng vặn răng thì nhanh kỷ lục. Chỉ thoáng vài phút là đã lôi ra cả chục chiếc răng như chơi. Đáng sợ thiệt! Nhìn một đứa bé trong phòng nha sĩ đi ra, khóc thút thít, Đốc sợ quá, muốn bỏ về. Chèng đéc ơi! Nhổ răng gì mà đau vậy cơ à, con nít cũng phải khóc! Đốc coi vậy mà nhát hơn con nít!

Sau khi cô nha sĩ đưa kính soi rồi thọc cả cái kim dài nhọn vào miệng, kiểm soát từng cái răng một của Đốc, cô nói:

- Răng cụ Đốc hư hết rồi! Phải làm hàm răng giả.

Đốc vừa hét vừa khóc rống lên:

- Ối! Thế thì chết! Đau lắm! Đau lắm!

Cả phòng mạch xôn xao, mấy cô y tá chạy vào coi xem chuyện gì mà kinh khủng vậy. Nhưng chẳng có chuyện gì cả! Họ nhìn Đốc, cười tủm tỉm với nhau, rồi bỏ đi ra. Đốc hỏi cô nha sĩ:

- Thế làm răng giả thì tốn bao nhiêu?

- Thưa cụ Đốc, hết khoảng vài ngàn đô.

Đốc Gàn lẩm bẩm: "Vài ngàn đô? Có mấy cái răng giả mà sao mắc thế nhỉ." Rồi Đốc hỏi lớn:

- Vậy lão trả bằng tiền giả hay tiền thật?

Cô nha sĩ nhìn thẳng vào mặt Đốc, ngạc nhiên:

- Cụ Đốc nói gì cháu không hiểu? Cụ phải xài tiền thật chứ sao lại xài tiền giả? Cảnh sát bắt chết!

- Cô làm răng giả cho lão thì lão phải trả tiền giả cho cô chứ!

Cô nha sĩ bây giờ mới hiểu ý cụ Đốc. Cô cười đáp lại:

- Thưa cụ, cháu làm răng giả cho cụ, nhưng cụ dùng răng giả mà ăn thật, ăn bình thường như là răng thật, vì thế cụ phải trả cho cháu bằng tiền thật chứ lại!

Đốc Gàn thấy cô nha sĩ này nhanh nhẩu và hóm hỉnh lắm, lại nói tiếng Việt lưu loát, nên hỏi tiếp:

- Vậy lão nhổ nhiều răng như vậy, cô có chương trình "nhổ một tặng một" không?

- Dạ có! Cháu có chương trình còn ngon hơn vậy nữa. "Nhổ một tặng hai" cơ!

Đốc Gàn cười xòa:

- Lão hỏi cô vậy thôi, chứ đời nào mà lão chịu đeo răng giả. Để lão về ngậm nước muối một thời gian cho răng nó chặt lại. Sau đó rồi hãy hay. Sao hôm nay khám như vậy, cô tính bao nhiêu đây, để lão trả?

- Dạ, tiền khám hôm nay thì cháu biếu cụ để lấy thảo, nhưng xin cụ trả cho cháu hai trăm.

Đốc thắc mắc:

- Ủa, sao kỳ vậy? Đã nói không tính tiền mà sao còn bắt lão phải trả những hai trăm? Tiền gì vậy?

- Thưa cụ! Lúc nãy cụ la lớn trong phòng khám, làm cho hai người khách của cháu ở ngoài sợ quá, bỏ về luôn. Vậy cụ trả cho cháu mỗi người khách bỏ đi là một trăm. Vị chi cả thảy là hai trăm!

- À ra vậy. Té ra làm nghề nha sĩ có nhiều cái khoản hơn người. Cô có biết cô hơn người ở chỗ nào không?

- Dạ, thưa cụ! Cháu chả thấy hơn ai được chỗ nào cả. Cháu bị chồng ăn hiếp hoài à!

Đốc giơ hai tay lên trời như muốn phân trần điều gì bí hiểm lắm:

- Trời ơi là trời! Cô giỏi dang, cô hơn người xa thật là xa mà cô không biết. Cô muốn ra lệnh cho ai, cô muốn dạy dỗ ai thì người ta cũng phải nằm êm rơ cho cô nói. Chồng cô làm sao ăn hiếp được? Này nhé, cô cứ đưa chồng cô lên cái ghế này, bắt nằm ngửa, há miệng ra, rồi cài cái miếng cao su vào miệng anh ta, như cô vừa cài vào miệng tôi đó. Thế là cô tha hồ mà nói, muốn nói ngang nói ngược, muốn dạy dỗ gì cũng xong. Cô khoá miệng thiên hạ rồi thì ai mà cãi được nữa! Thế có phải cô hơn người không nào?

Chuyện nha sĩ chắc kể hoài không hết. Một anh chàng kia có chiếc răng đau chịu không nổi. Tình cờ, chàng đi ngang qua một cửa tiệm vẽ cái răng với hàng chữ "Ở đây nhổ răng không đau". Anh chàng khoái quá, bước vào xin nhổ chiếc răng đau mà không đau. Chỉ năm phút là xong, anh trả tiền ra về. Nhưng chừng một tiếng sau, thuốc tê hết hiệu lực, anh vẫn thấy đau răng, liền soi gương thì hỡi ơi! Chiếc răng đau còn nguyên. Anh bực mình trở lại phòng mạch khiếu nại:

- Tại sao chiếc răng đau của tôi không nhổ mà lại đi nhổ chiếc răng không đau.

 Người thư ký trả lời tỉnh bơ:

- Ơ cái anh này, rõ dở hơi chưa? Anh không đọc hàng chữ quảng cáo ngoài kia sao? Ở đây chúng tôi chỉ nhổ "răng không đau" để gắn răng vàng vào, chứ chúng tôi có nhổ "răng đau" bao giờ đâu?

- Thế mà tôi cứ tưởng ở đây nhổ răng đau mà không đau!

Té ra, cái chữ nghĩa Việt Nam sao mà nó hóc hiểm thế này. Ai mà hiểu cho nổi?

Hồi Mục Sư Martin Luther King, Jr. còn sống, Đốc Gàn đã cùng ông và 250.000 người khác có mặt trong cuộc biểu tình tuần hành ngày 28-8-1963 theo một lộ trình 700 dặm Anh từ miền Nam Alabama đến Hoa Thịnh Đốn, dừng lại tại Công Trường Quốc Hội và nghe bài diễn văn của Mục Sư với câu nói lịch sử: "Tôi có một ước mơ, một ngày nào đó ở tiểu bang Alabama... những đứa trẻ da đen, trai lẫn gái, sẽ có thể nắm tay với những đứa trẻ, trai lẫn gái, da trắng và xem nhau như anh chị em".

Đốc nói với Mục Sư King:

- Người Việt Nam chúng tôi rất trân trọng và thán phục cuộc tranh đấu của người da đen quý ông. Phong tục chúng tôi rất trọng màu đen. Mục Sư coi đây nè.

Đốc nhe hàm răng đen cho Mục Sư coi và nói tiếp:

- Đây là bộ răng đen của tôi. Cha ông chúng tôi dạy rằng: "Cái răng, cái tóc là góc con người". Ý nói hàm răng và bộ tóc quan trọng vì biểu lộ phong thái con người, do đó phải giữ gìn cẩn thận và săn sóc chu đáo hàm răng, mái tóc cho tươm tất. Con người dễ có cảm tình với người khác là nhờ mỗi khi mở miệng cười, hàm răng có đẹp hay không. Chỉ cần nhìn bộ tóc chải chuốt cẩn thận là người ta biết ngay người đó có phong thái chững chạc.

Mớ tóc của người Việt chúng tôi bẩm sinh Trời đã cho đen rồi. Đẹp khỏi chê! Còn về nét đẹp của răng, cha ông chúng tôi không thích răng trắng như răng bò. Thế nên các cụ nhuộm đen cho nó đẹp. Vả lại ở vào thời chưa có bàn chải đánh răng, chưa có nha sĩ chùi răng, nhổ răng thì việc nhuộm răng đen là một phương pháp tốt nhất để bảo vệ hàm răng khỏi bị sâu.

Ca dao Việt Nam có câu:

Răng đen ai nhuộm cho mình,
Để duyên mình thắm, để tình ta say.

hoặc câu khác:

Môi son lại điểm má hồng,
Hàm răng đen nhức ai lòng chẳng say!

Ngày xưa nghệ thuật trang điểm sắc đẹp của nữ giới Việt Nam là cặp má hồng và hàm răng đen óng ả. Chính hình ảnh này đã làm mê say biết bao chàng trai:

Mình về mình nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

Và người con gái cũng rất tự hào về sự gắn bó giữa hàm răng đen với cuộc tình duyên của mình:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng răng đen.

Mục Sư King nghe đến đây có vẻ khoái chí lắm, hỏi tiếp:

- Thế sao răng của Đốc Gàn không được đen cho lắm?

Đốc Gàn nhe răng cười:

- Răng của tôi là thứ răng cải mả. Đồ bỏ rồi! Răng cải mả là răng nhuộm đen, nhưng sau một thời gian, chất đen bị phai mờ và trở nên loang lổ vừa đen, vừa trắng, lại vừa vàng. Trông mất vệ sinh quá sức lẽ mình! Muốn cho răng được đen nhánh óng ả như hạt na thì phải năng nhuộm lại. Mỗi lần nhuộm răng phải vất vả lắm.

Ông Mục Sư có vẻ tò mò:

- Thế thì người Việt nhuộm răng làm sao và nhuộm bằng gì?

Đốc Gàn nhổ nước trầu vào ống, rồi say sưa nói về cách nhuộm răng:

- Nhuộm răng đen là cả một nghệ thuật. Cụ Toan Ánh trong cuốn "Phong Tục Việt Nam" đã chỉ cách nhuộm răng như sau:  

"Răng chỉ bắt đầu nhuộm khi đã thay xong lượt răng sữa, và đã có một số răng hàm. Nhuộm răng chia làm hai lớp, lớp đầu nhuộm cho răng có màu đỏ, sau đó mới nhuộm màu đen lên màu đỏ. Muốn nhuộm răng màu đỏ, phải dùng cánh kiến tán nhỏ. Vắt chanh vào bột cánh kiến này rồi để kín trong bảy ngày cho chất chua của chanh ăn vào bột cánh kiến.

"Dùng bột cánh kiến pha chanh này phết vào những mảnh lá dừa hoặc lá cau, bản to bằng chiều cao cái răng, rồi lúc đi ngủ ấp vào hai hàm răng. Màu cánh kiến qua đêm sẽ ăn dần vào men răng, và răng lúc đó lờ lờ, qua độ bảy đêm, răng sẽ nhuốm màu đỏ già cánh dán.

"Màu đỏ như vậy kể là đã nhuộm xong. Bây giờ phải bước sang lớp thứ hai nhuộm răng đen. Thuốc nhuộm răng đen vẫn dùng cánh kiến, nhưng lần này bột cánh kiến không hòa lẫn với chanh, lại hòa với lá phèn đen. Hai thứ nghiền lẫn để quyện lấy nhau, rồi cũng phết vào lá cau hoặc lá dừa rồi ấp lên hàm răng. Chỉ cần nhuộm đen hai đêm là răng đen nhánh. Bấy giờ, muốn để màu đen đó khỏi lạt phai đi, phải chiết răng.

"Chiết răng nghĩa là làm cho răng giữ mãi được màu đen. Người nhuộm răng sẽ ngậm những ngụm nước dưa chua. Nước dưa chua có chất giữ màu cho răng. Ngậm và súc miệng nhiều lần bằng nước dưa chua, màu đen sẽ ăn liền vào răng và hàm răng đen bóng.

"Sau khi đã chiết răng thì màu răng không phai được nữa, người ta mới lại ăn uống, nhai như thường."  (4)

Mục Sư King có vẻ thích thú về câu chuyện của Đốc Gàn. Ông nói:

- Xin hết lòng cám ơn Đốc Gàn về chuyện nhuộm răng đen theo phong tục Việt Nam.

Đốc Gàn rít một điếu thuốc lào rồi thủng thẳng kết thúc câu chuyện:

- Trong cuộc đời này không thiếu những chuyện thay trắng đổi đen. Tóc bạc người ta nhuộm thành đen cho... trẻ ra. Tóc đen người ta nhuộm thành hồng, thành tím, thành vàng cho... hấp dẫn. Thiên hạ còn nhuộm cả móng tay, móng chân, cả cặp môi, cặp má. Nhưng rùng rợn hơn nữa, người ta còn nhuộm đen luôn cả danh dự và cuộc đời người khác. Còn riêng ngài, ngài đang pha trộn, hòa hợp da đen với da trắng. Chúc ngài sớm thành công.

Thấy Mục Sư thích thú với chuyện răng cỏ, Đốc Gàn hỏi:

- Sao? Ngài có đồng ý để Đốc nhuộm răng đen cho không?

Mục Sư vội vàng xua tay:

- Không. Mọi thứ trong người tôi đều đã đen ngòm cả rồi. Chỉ còn có bộ răng là trắng thôi. Xin cứ để vậy.

- Thế ra chính ông cũng không thích cho mọi thứ trong người ông trở thành mầu đen?! Ông nghĩ vậy là phải. Con người ta cũng phải có chỗ đen chỗ trắng. Đen cả cũng không đẹp, mà trắng cả cũng không nên! Trắng trắng, đen đen cần phải hòa hợp, hòa đồng.

Xã hội cũng vậy! Người da đen tại Hoa Kỳ đã thành công trong cuộc cách mạng chống kỳ thị màu da. Người da đen tại Hoa Kỳ cần thúc đẩy mọi sắc dân khác làm một cuộc cách mạng đề cao lòng yêu nước và quý trọng đất nước Hoa Kỳ, cái nôi của Tự Do, Dân Chủ và Bình Đẳng của thế giới.

Người da đen cũng cần sát cánh với các sắc dân khác để phát động một cuộc cách mạng chống mọi tội phạm trên đất nước Hoa Kỳ này. Các nhà tù tại Hoa Kỳ không phải là nơi chỉ để giam giữ những tù nhân mà đa số là người da đen.

Hoa Kỳ mang danh là một nước tạp chủng thì các sắc dân phải sống hòa hợp, hòa bình, trong tình nghĩa yêu thương. Nhờ vậy, Hoa Kỳ mới trở thành một vườn hoa đầy đủ hương sắc trong cảnh thái bình, thịnh vượng được.

Khi dựng nên con người, Thượng Đế muốn rằng mọi người nam nữ phải được bình đẳng về nhân phẩm. Tuy vậy, về sắc diện và quyền tự do quyết định cho cuộc đời mình thì không ai giống ai. Mỗi người là một kiệt tác duy nhất và độc nhất của Thượng Đế.

Công tác cuối cùng của Thượng Đế trong tiến trình tạo dựng con người là lựa chọn màu da. Ngài bỏ con người lên lò nướng. Mẻ đầu, Ngài để non lửa và lấy ra sớm quá, nên màu da hơi trắng. Lớp da trắng chịu phong sương, vất vả, cực nhọc không được dai bền, nhưng đã có cái đầu thay thế tay chân. Người da trắng chơi những môn thể thao cần sức mạnh như đánh bốc hay banh chầy thì không được sung sức cho lắm, nhưng làm việc trí tuệ thì thành công vượt bực. Đầu óc thế tay chân là vậy!

Đến mẻ nướng thứ nhì, Thượng Đế để lửa già và nướng lâu hơn một tí. Có mùi khen khét! Hóa ra nước da bị cháy đen thui lui. Nhưng cũng nhờ nước da đen mà sương gió, nắng mưa chẳng nhằm nhò gì. Việc tay chân nặng nhọc người da đen chẳng xá kể chi, nhưng việc trí óc thì lại có vẻ hơi lơ là một tí.

Rút kinh nghiệm cho lần nướng thứ ba, Thượng Đế phải vất vả hơn. Ngài thổi, Ngài quạt, Ngài căn giờ, Ngài vật lên, lộn xuống, xoay qua, xoay lại. Khi bỏ ra thì nước da không trắng quá, cũng không đen quá. Đó là da vàng. Người da vàng sức khoẻ và trí tuệ được chấm điểm là quân bình: Sức mạnh không kém người da đen, mà trí tuệ cũng không thua người da trắng.

Tóm lại, Đen, Trắng, Vàng đều là tuyệt tác phẩm của Thượng Đế. Ngài đã trao cho con người - bất luận mầu da - được cai trị mọi loài thụ tạo khác trên trái đất này. Nhân loại không thể kỳ thị nhau vì màu da, mà phải sống hài hòa, bổ túc lẫn cho nhau, để đưa thế giới đến cuộc sống hòa bình và thịnh vượng.

Ấy, đại loại những suy tư của Đốc Gàn thuộc loại tưng tửng, man mát như vậy.

Người đời cười tớ là điên thật,
Tớ lại cười ai giả thánh hiền.
(thơ Nguyễn Trọng Cẩn)

 _____________________________________

(4) Toan Ánh, "Phong Tục Việt Nam - Từ bản thân đến gia đình", Khai Trí 1968, tr. 150

   
 Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua
Hình:  Trung Tâm Mimosa
(Bìa CD Hương Cố Nhân)
Switch mode views: