Tài liệu cũ của Saigon Echo
từ 2008 - 2012
Play
Giám Đốc: Tiến Sĩ Trần An Bài

               Suy Tư Dòng Đời:

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế, 'người hùng thầm lặng'


FALLS CHURCH, Virginia (NV) - Từ ngày 22 đến 24 Tháng Năm tới đây, cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế sẽ từ Virginia đến The Lowell Milken Center for Unsung Heroes, có trụ sở tại tiểu bang Kansas, để phát biểu trong ngày khánh thành Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm lặng, nơi vinh danh ông.

tranngochue 1
Ông Trần Ngọc Huế năm 27 tuổi với cấp bậc trung tá. (Hình: Trần Ngọc Huế cung cấp)

Ông được vinh danh nhờ cuốn phim tài liệu do hai cô nữ sinh Hailey Reed và Andrea Sodergren của trường trung học Seaman, thành phố Topica, tiểu bang Kansas, thực hiện kể về cuộc đời binh nghiệp, những chiến công cùng những năm tháng tù đày của ông. Và tại viện bảo tàng, ông được dành một góc trang trọng để trưng bày hình ảnh về mình.

Trong cuộc chiến Việt Nam, ông Huế được Hoa Kỳ tặng thưởng huy chương Ngôi Sao Bạc (Silver Star) và huy chương Ngôi Sao Đồng (Bronze Star). Ngoài ra, ông cũng được chính phủ VNCH tặng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương cùng nhiều huy chương cao quý khác.

Phóng viên nhật báo Người Việt đã có cuộc trao đổi với cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế, còn có tên thân mật khác là Harry, do các cố vấn Mỹ đặt cho ông.

Quốc Dũng (NV): Thưa ông, ông có thể chia sẻ cảm xúc của ông khi được vinh danh là “Người Hùng Thầm Lặng?”

Ông Trần Ngọc Huế: Tôi cảm động vô cùng. Cảm động vì một thế hệ người Mỹ trẻ đã nhớ đến, trong khi tôi chỉ là một người lính của Quân Lực VNCH. Tôi rất cảm ơn những người Mỹ trẻ, đặc biệt là thế hệ thứ ba sau chiến tranh Việt Nam. Cảm ơn hai cô nữ sinh Hailey Reed và Andrea Sodergren, dưới sự hướng dẫn của giáo viên dạy sử Susan Sittenauer, đã thu thập thông tin và dựng một cuốn phim tài liệu ngắn về tôi.

NV: Họ đã liên lạc với ông như thế nào?

Ông Trần Ngọc Huế: Cô giáo Susan Sitternauer, ngoài việc dạy học, còn là thành viên của The Lowell Milken Center's Hall of Unsung Heroes (Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm Lặng), thuộc The Lowell Milken Center for Unsung Heroes (LMC), có trụ sở tại Fort Scott, tiểu bang Kansas. Cô Susan, Hailey và Andrea đã đọc cuốn “Vietnam's Forgotten Army, Heroism and Betrayal in the ARVN” (Một Quân Đội Bị Quên Lãng, Anh Hùng Và Kẻ Phản Bội Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) của Giáo Sư Sử Học Andrew Wiest, trường đại học University of Southern Mississippi, một cuốn sách viết về cách quân đội miền Nam Việt Nam hỗ trợ binh sĩ Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Sau đó, họ liên lạc với tác giả của cuốn sách, và tiếp theo là tôi.

NV: Ông có biết vì sao họ chọn ông?

Ông Trần Ngọc Huế: Theo như cô giáo Susan Sitternauer nói thì cô có người chú từng là phi công trực thăng trong chiến tranh Việt Nam và bị tử thương trong cuộc chiến này, vì vậy cô rất quan tâm đến chiến tranh Việt Nam nên khi đọc tác phẩm của Giáo Sư Andrew Wiest, cô đã liên lạc với tôi. Bởi vì như cô nói, mục đích của LMC là tìm những người có thành tích khác thường trong cuộc sống của họ, nhưng không được công nhận công khai, hoặc trong sách giáo khoa, nhằm phổ biến những câu chuyện lịch sử đó đến người khác.

NV: Ông nhận xét cuốn phim tài liệu ngắn về ông như thế nào?

Ông Trần Ngọc Huế: Hai cô nữ sinh trung học này đã làm một cuốn phim tài liệu về cuộc đời binh nghiệp, cùng những năm tháng tù đày của tôi làm tôi rất hãnh diện, tự hào, vì đã có một sự ghi nhận cho thế hệ hôm nay và mai sau nhớ đến. Tuy nhiên, người được vinh danh xứng đáng nhất phải là Quân Lực VNCH, một quân lực bất hạnh, hy sinh rất nhiều, chiến đấu rất anh dũng nhưng cuối cùng đã bị quên lãng.

Giá trị của cuốn phim nói lên một điều, đã đến lúc người Mỹ nghĩ đến công lao của những người lính VNCH đã bỏ mình, đã hy sinh để chiến đấu dũng cảm cho quê hương, cho sự tự do của miền Nam Việt Nam, cho sự tự do của thế giới. Tuy nhiên, suốt một thời gian dài sự hy sinh đó không được nghĩ đến, tưởng nhớ đến. Bây giờ, hai cô nữ sinh trung học tại thành phố Topica, là quê hương của cựu Tổng Thống Dwight D. Eisenhower, đã nói lên được tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” đó. Đồng thời, tôi cũng vui khi biết rằng cuốn phim này đã giúp hai cô nữ sinh nhận được giải thưởng $10,000 từ LMC, và Tháng Giêng vừa rồi tôi đã đi Topica để trao giải thưởng cho hai cô.

tranngochue 2
Ông Trần Ngọc Huế cùng hai nữ sinh Hailey Reed (giữa) và Andrea Sodergren trong ngày hai cô nhận giải thưởng $10,000. (Hình: Trần Ngọc Huế cung cấp)

NV: Ông có thể nói rõ hơn việc những người lính VNCH bị quên lãng?

Ông Trần Ngọc Huế: Từ ngày 22 đến 24 Tháng Năm tới đây, Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm Lặng dành một góc để trưng bày hình ảnh về tôi, đồng thời trình chiếu cuốn phim tài liệu này. Tại đây, tôi sẽ cảm ơn người Mỹ đã nhớ đến tôi, nhưng tôi xin trân trọng nói với họ rằng, người được vinh danh xứng đáng nhất là Quân Lực VNCH, đó mới là một tập thể anh hùng vĩ đại nhưng bị quên lãng. Còn tôi chỉ là một cá nhân góp phần nhỏ bé trong sự hy sinh đó mà thôi.

Chế độ Cộng Sản đã sụp đổ ở Đông Âu, Liên Xô, và một số nước khác ở Châu Mỹ La Tinh, không phải ngẫu nhiên mà có, mà phải có sự đấu tranh, sự hy sinh xương máu trong đó. Và trong cuộc chiến tranh Việt Nam cũng vậy, đã có những người lính VNCH anh hùng, chiến đấu anh dũng, đã nằm xuống hoặc đã hy sinh một phần thân thể để bảo vệ cho tự do, dân chủ của miền Nam Việt Nam nhưng không bao giờ được nghe nhắc đến.

NV: Trong cuộc trò chuyện với hai nữ sinh, ông đã chia sẻ điều gì với họ?

Ông Trần Ngọc Huế: Tôi kể về trận chiến một mất một còn với quân đội Bắc Việt để lấy lại quyền kiểm soát Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, nơi đầu não chỉ huy tái chiếm lại Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Trận đánh kéo dài 26 ngày đêm, cuối cùng giải phóng được thành phố Huế, treo lại cờ VNCH tung bay trên đỉnh Kỳ Đài - Phu Văn Lâu.

Cộng Sản Bắc Việt gian ác ở chỗ, thời điểm Tết là lúc hai bên đồng ký thỏa thuận hưu chiến, tức những ngày đó không đánh nhau. Những ngày hưu chiến đó quân nhân về quê ăn Tết. Thê nhưng Cộng Sản lợi dụng thời điểm đó để chuyển vũ khí vào thành phố, ém binh, đến đêm Giao Thừa thì khai hỏa. Khi đó tôi là đại đội trưởng Đại Đội Hắc Báo, lực lượng tổng trừ bị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Quân Lực VNCH. Đại Đội Hắc Báo của chúng tôi là Lực Lượng Phản Ứng Cấp Thời (Fast Reaction Forces) đóng tại phi trường Thành Nội.

Lúc đó lực lượng chỉ còn hơn 200 người, lính tráng vừa nghỉ phép nữa, nên lực lượng rất mỏng. Khi đó Cộng Sản tấn công rất dữ, đã chiếm được phi trường. Giờ đây tôi còn nhớ như in cảnh anh em hy sinh lúc đó. Một tấc đất là máu đổ xuống, vì tự do, vì sống còn. Trận đó tôi nói với anh em rằng, “Chiến đấu để mà tự do, còn hơn là khuất phục thì cũng bị giết.”

Và anh em đều rất thiện chiến, anh dũng lắm, đánh rất hay, đối đầu với Cộng Sản. Sau đó chúng tôi làm chủ tình hình và tấn công lại. Đại Đội Hắc Báo đã dũng cảm chiến đấu và đánh bật đối phương ra khỏi phi trường, đồng thời cứu được hai lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ phi trường, khỏi tay quân địch.

NV: Ông có thể kể thêm về chuyện giải cứu hai lính Mỹ như thế nào không?

Ông Trần Ngọc Huế: Tại phi trường Thành Nội có hai chiếc trực thăng của Mỹ, vì họ tin rằng lực lượng VNCH bảo vệ được. Khi đánh nhau, họ cũng phản công nhưng không mạnh lắm, lúc đó Đại Đội Hắc Báo chúng tôi kịp lúc yểm trợ. Sau đó tôi dặn hai người lính Mỹ phải đi phía sau trong đại đội của tôi, bởi vì nếu chạy phía trước thì nhiều khi đạn bắn lầm. Tôi thương họ và cảm ơn nước Mỹ vì không những cung cấp vũ khí, mà còn gửi con em qua cho mình, nên mình phải bảo vệ họ. Xương máu của họ còn quý hơn vũ khí mà họ cấp cho mình, nên mình phải trân trọng. Và hơn hết đó là tình đồng đội nữa.

tranngochue 3
Ông Trần Ngọc Huế hiện nay. (Hình: Trần Ngọc Huế cung cấp)

NV: Và tình đồng đội của ông còn quyết liệt hơn ở trận đánh bên Nam Lào?

Ông Trần Ngọc Huế: Sau trận đánh Tết Mậu Thân 1968, tôi lần lượt làm tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn 1/3, 5/2 và 2/2 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Tháng Ba, 1971, Tiểu Đoàn 2/2 của tôi cùng với các tiểu đoàn khác, được điều động tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 với nhiệm vụ đột kích bằng trực thăng vận vào mục tiêu chiến lược Tchepone, Nam Lào, giải vây cho hai tiểu đoàn 3/3 và 4/3. Sau khi giải vây được cho tiểu đoàn bạn, chúng tôi bị địch bao vây.

Lúc đó tôi bị thương nặng ở mặt, đầu, và cổ, anh em tìm cách đưa tôi lên “dust off” (gọi chung các trực thăng tải thương Hoa Kỳ). Tôi mới nói anh em đừng kêu, vì chưa chắc bốc tôi ra được, mà lại hy sinh cả phi hành đoàn gồm hai phi công, hai y tá nữa. Chưa kể, muốn trực thăng cứu thì phải ra hiệu để họ biết, nhưng chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này,” vì Cộng Sản cũng biết nơi mình trú ẩn.

Khi trực thăng xuống đâu phải dễ, phải bay vòng vòng nữa, nên tôi nói đừng vì tôi mà phải hy sinh nhiều người khác. Mặc dù bị phòng không và súng cối địch vây chặt nhưng máy bay tải thương vẫn can đảm cứu lao xuống để cứu người bằng mọi giá. Trực thăng tải thương có dấu hiệu là chữ thập đỏ. Theo công ước quốc tế thì không bao giờ được bắn rơi chiếc máy bay loại đó, nhưng Cộng Sản thì phi luật pháp nên cứ bắn xối xả.

Khi đó pháo bắn vào dữ quá, ban chỉ huy ra lệnh mở đường máu rút lui. Anh em đòi khiêng tôi rút lui, nhưng tôi không chịu. Tôi ra lệnh cho anh em để tôi lại đó và mau chạy để trốn thoát. Một vài giờ sau đó, tôi bị bắt như một tù binh chiến tranh.

NV: Thưa ông, những lúc đó ông có nghĩ về gia đình, vợ con không?

Ông Trần Ngọc Huế: Tôi nghĩ nhiều lắm, nhưng biết làm sao bây giờ. Đối với tôi, nhiệm vụ với tổ quốc là quan trọng, dưới tay tôi còn biết bao gia đình nữa. Bởi vì mỗi người lính là một gia đình, họ có cha, có mẹ, có vợ, có con. Mình cũng có gia đình, mình và họ cùng thi hành nhiệm vụ với tổ quốc và quân đội giao cho. Nhưng tình thương gia đình tôi phải ôm ấp trong lòng, so với bao nhiêu tình thương khác. Ở vị trí của một người lính và một chỉ huy, tôi phải có tinh thần tự hy sinh, chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết. Bởi vì, nếu nước mất nhà tan, thì chưa chắc gia đình mình yên ổn.

NV: Người Việt hải ngoại chuẩn bị tưởng niệm 41 năm Sài Gòn sụp đổ, xin ông cho biết cảm xúc của mình?

Ông Trần Ngọc Huế: Khi Sài Gòn sụp đổ, lúc đó cảm giác của tôi là buồn. Tại sao không giữ được miền Nam? Tại sao mọi người không góp sức nhau để chống cự với Cộng Sản Bắc Việt? Khi nghĩ lại Sài Gòn sụp đổ cách đây 41 năm, tôi nghĩ không chỉ đau thương và hối tiếc, mà phải ngồi lại để rút ra những bài học lịch sử cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi đoàn thể truyền lại bài học đó cho các thế hệ tiếp theo.

Truyền lại cái gì? Đó là sự đoàn kết dân tộc. Luôn luôn nghĩ rằng, đoàn kết là mấu chốt tất cả mọi sự thành công. Có đoàn kết nhìn về một hướng, có một chủ đích, thờ một quốc tổ, có những giềng mối, và biết hy sinh những quyền lợi cá nhân để cho tập thể, để cho dân tộc, để cho quê hương thì khi đó mới hòng đánh đổ những chủ nghĩa bạo tàn như Cộng Sản Việt Nam, và chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc.

Năm ngoái tôi đi Úc để quay cuốn phim thời sự dài ba tập mang tên “Vietnam, The War That Made Australia” (Việt Nam, Cuộc Chiến Định Hình Nước Úc và Tình Đồng Đội Của Những Cựu Quân Nhân Úc-Việt) do Hội Cựu Chiến Binh Úc thực hiện, chiếu trên đài truyền hình SBS, nói về chiến tranh Việt Nam mà quân đội Úc từng tham chiến. Tôi đã chứng kiến sự tôn trọng của quân đội Úc đối với Quân Lực VNCH. Dù muốn dù không, không ai chối cãi được sự hy sinh lớn lao của Quân Lực VNCH và thành công mà họ đã làm cho thế giới.

NV: Cuộc sống hiện tại của ông thế nào?

Ông Trần Ngọc Huế: Tháng Ba, 1971, tôi bị bắt khi bị thương và bị nhốt ở nhiều nơi như Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội, Sơn Tây... Đến Tháng Tư, 1982, tôi được chuyển về Hàm Tân, và Tháng Bảy, 1983, tôi được thả. Về Sài Gòn, tôi bị quản thúc tại gia trong nhiều năm cho đến năm 1991 thì tôi qua Mỹ theo diện HO và cư ngụ tại tiểu bang Virginia cho đến nay.

Khi mới sang đây tôi làm bất cứ việc gì để lo cho gia đình gồm vợ và ba con gái. Tôi nghĩ rằng, phải gác lại những chuyện ngày xưa, làm gì để có tiền cho con cái học hành là được. Tôi biết mình thân phận của kẻ mất nước, qua đây đất khách nơi người, nương nhờ người ta, nên phải chú tâm đi làm. Đến năm 1994, nhờ bạn bè Mỹ giúp đỡ, tôi vào làm cho ngân hàng Navy Federal Credit Union và sau đó xin cho các con vào làm cho đến nay.

Tôi đã về hưu vài năm, năm nay tôi 74 tuổi. Nhớ lại thời gian sinh ra và lớn lên tại Huế, rồi năm 12 tuổi vào trường Thiếu Sinh Quân học. Sau khi đậu tú tài, tôi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, khóa 18. Ra trường năm 1963, tôi được phục vụ ngay cho Quân Lực VNCH, và tôi tự hào là người lính VNCH.

Switch mode views: